Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN Ở NGƯỜI CAO TUỔI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN NGOÀI PHÚC MẠC

Lê Tiến Dũng1,2, Nguyễn Văn Hưng3,4, Hồ Hữu Đức1,2,5,6
1 Thong Nhat Hospital
2 Bệnh viện Thống Nhất
3 University of Health Sciences, Vietnam National University Ho Chi Minh City
4 Trường Đại học Khoa học Sức khoẻ, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
5 Nguyen Tat Thanh University
6 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.6188
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả và độ an toàn của phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) trong điều trị thoát vị bẹn ở người cao tuổi, đồng thời phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sau mổ..

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có phân tích trên 42 bệnh nhân ≥65 tuổi được phẫu thuật nội soi TEP tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2020 đến 12/2024. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, bao gồm đặc điểm lâm sàng, loại thoát vị, thời gian phẫu thuật, biến chứng và kết quả hậu phẫu, theo dõi qua hồ sơ tái khám lâm sàng ghi nhận các biến chứng xa. Phân tích thống kê bằng SPSS 26.0 với mức ý nghĩa p < 0,05.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,6 ± 5,7 tuổi, tất cả đều là nam giới. Thoát vị hai bên chiếm 38,1%, phân loại Nyhus II 71,4%, IIIa và IIIb mỗi loại 14,3%. Thời gian mổ trung bình 85,7 ± 16,3 phút, không có chuyển mổ mở. Tai biến trong mổ 7,1%, biến chứng sớm 16,7%, chủ yếu tụ dịch và tụ máu nhẹ, xử trí bảo tồn. Thời gian nằm viện trung bình 3,3 ± 1,2 ngày. Sau theo dõi 12 tháng, ghi nhận tỷ lệ tái phát 2,4% và rối loạn cảm giác 2,4%.

Kết luận: Phẫu thuật TEP là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị thoát vị bẹn ở người cao tuổi, với tỷ lệ biến chứng thấp, phục hồi nhanh và kết quả sau mổ ổn định khi được thực hiện bởi ê-kíp có kinh nghiệm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Stabilini C, van Veenendaal N, Aasvang E, et al. Update of the international HerniaSurge guidelines for groin hernia management. BJS Open. 2023;7(5):zrad080. doi:10.1093/bjsopen/zrad080. Google Scholar
[2]
Andresen K, et al. Transabdominal pre-peritoneal (TAPP) versus totally extraperitoneal (TEP) for inguinal hernia repair: A Cochrane-style systematic review. Cochrane/Trials Evidence summary. 2024. Google Scholar
[3]
Basukala S, et al. TAPP compared to TEP for inguinal hernia repair: Systematic review and meta-analysis. Ann Med Surg (Lond). 2024;86:105033. Google Scholar
[4]
Iossa A, et al. TEP or TAPP: who, when, and how? Front Surg. 2024;11:1352196. Google Scholar
[5]
Xi S, et al. Comparison of laparoscopic and open inguinal hernia repair in elderly patients under surgical–medical co-management. Int J Surg. 2024;114:60–66. doi:10.1097/MD.0000000000029325. Google Scholar
[6]
Golik D, et al. Outcomes of laparoscopic TAPP hernia repair in patients ≥70 years: A retrospective cohort study. Videosurgery Miniinv. 2024;19(2):101–108. Google Scholar
[7]
Girón F, et al. Outcomes of 207 TEP repairs with self-fixation mesh: Up to 5-year follow-up. Sci Rep. 2021;11:12515. doi:10.1038/s41598-021-92063-9. Google Scholar
[8]
Andresen K, et al. Risk of reoperation after TEP, TAPP, and Lichtenstein: Nationwide cohort study. Hernia. 2025;29(1):45–54. doi:10.1007/s10029-025-03374-z. Google Scholar
[9]
Güler M, et al. Comparison of outcomes of TEP and TAPP; fixation strategy and chronic pain. J Acad Res Med. 2025;12(2):135–142. doi:10.4274/jarem.galenos.2025.74436. Google Scholar
[10]
Li X, et al. Meta-analysis of robotic versus laparoscopic TAPP for inguinal hernia. PLoS One. 2024;19(6):e0298989. doi:10.1371/journal.pone.0298989. Google Scholar