Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

VIÊM NÃO KHÁNG THỤ THỂ N-METHYL-D-ASPARTATE (NMDAR) LIÊN QUAN ĐẾN U QUÁI BUỒNG TRỨNG Ở PHỤ NỮ TRẺ: BÁO CÁO CA BỆNH

Lê Cao Phương Duy1,2,3,4, Lê Trần Trung1,3, Võ Thị Hạnh Vi1,3, Nguyễn Trần Minh1,3,5,6
1 Nguyen Tri Phuong Hospital
2 Faculty of Medicine, Nguyen Tat Thanh University
3 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
4 Khoa Y, Đại học Nguyễn Tất Thành
5 Faculty of Medicine, Ho Chi Minh City University of Medicine and Pharmacy
6 Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.6184
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Bối cảnh:

Viêm não kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate (NMDAR) là một rối loạn do miễn dịch trung gian, được đặc trưng bởi hội chứng thần kinh – tâm thần phức tạp và sự hiện diện của kháng thể chống lại tiểu đơn vị GluN1 của thụ thể NMDAR. Mối liên quan giữa u quái buồng trứng và viêm não kháng NMDAR là một tình trạng nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng, đặc biệt ở phụ nữ trẻ, và thường bị bỏ sót trong chẩn đoán.

Trình bày ca bệnh:

Chúng tôi báo cáo trường hợp một phụ nữ 19 tuổi, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, xuất hiện thay đổi hành vi bán cấp, lú lẫn và trạng thái căng trương lực (catatonia). Khi nhập viện, bệnh nhân biểu hiện câm lặng và rối loạn tâm thần - vận động. Xét nghiệm dịch não tủy phát hiện kháng thể kháng NMDAR; tầm soát khối u phát hiện một khối u buồng trứng.

Can thiệp và kết quả:

Bệnh nhân được điều trị bằng corticosteroid liều cao, thay huyết tương, thuốc chống động kinh, sau đó được phẫu thuật cắt bỏ khối u buồng trứng. Bệnh nhân xuất viện trong tình trạng ổn định và cải thiện đáng kể các triệu chứng thần kinh.

Kết luận:

Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận biết sớm và chẩn đoán phân biệt toàn diện ở những bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng tâm thần và hành vi khởi phát cấp hoặc bán cấp. Ngoài ra, việc tầm soát và điều trị các khối u tiềm ẩn trong viêm não tự miễn là rất cần thiết, vì phẫu thuật cắt bỏ khối u kịp thời có thể cải thiện đáng kể tiên lượng ngắn hạn và dài hạn.

 

Chi tiết 'sau khi bắt đầu làm việc tại nhà máy' có thể gợi ý phơi nhiễm nghề nghiệp nhưng không được khai thác trong ca bệnh. Nếu không liên quan, nên bỏ để tránh gây nhiễu; nếu liên quan, cần mô tả phơi nhiễm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Samanta D, Lui F. Anti-NMDAR Encephalitis, StatPearls, StatPearls Publishing Copyright© 2024. 2024; Google Scholar
[2]
Acién P, Acién M, Ruiz-Maciá E, Martín-Estefanía C. Ovarian teratoma-associated anti-NMDAR encephalitis: a systematic review of reported cases. Orphanet J Rare Dis. Oct 14 2014;9:157. doi:10.1186/s13023-014-0157-x Google Scholar
[3]
Wu CY, Wu JD, Chen CC. The Association of Ovarian Teratoma and Anti-N-Methyl-D-Aspartate Receptor Encephalitis: An Updated Integrative Review. Int J Mol Sci. Oct 9 2021;22(20)doi:10.3390/ijms222010911 Google Scholar
[4]
Nosadini M, Thomas T, Eyre M, et al. International Consensus Recommendations for the Treatment of Pediatric NMDAR Antibody Encephalitis. Neurol Neuroimmunol Neuroinflamm. Jul 2021;8(5)doi:10.1212/nxi.0000000000001052 Google Scholar
[5]
Li JH, Milla SS, Gombolay GY. Rate of Anti-NMDA Receptor Encephalitis in Ovarian Teratomas. Neuropediatrics. Apr 2022;53(2):133-135. doi:10.1055/s-0041-1740352 Google Scholar
[6]
Banach W, Banach P, Szweda H, et al. Ovarian teratoma-associated Anti-NMDAR encephalitis in women with first-time neuropsychiatric symptoms: A meta-analysis and systematic review of reported cases. Heliyon. Oct 15 2024;10(19):e36042. doi:10.1016/j.heliyon.2024.e36042 Google Scholar
[7]
Nguyen L, Wang C. Anti-NMDA Receptor Autoimmune Encephalitis: Diagnosis and Management Strategies. Int J Gen Med. 2023;16:7-21. doi:10.2147/ijgm.S397429 Google Scholar
[8]
Titulaer MJ, McCracken L, Gabilondo I, et al. Treatment and prognostic factors for long-term outcome in patients with anti-NMDA receptor encephalitis: an observational cohort study. Lancet Neurol. 2013;12(2):157-165. doi:10.1016/S1474-4422(12)70310-1 Google Scholar