Mục tiêu: Mô tả mức độ duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành, thời gian sống còn toàn bộ (OS) và một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân ung thư tham gia chương trình hỗ trợ thuốc (VPAP) tại Bệnh viện Quân y 175.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, đơn trung tâm, trên 191 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên tham gia VPAP và điều trị Pembrolizumab. Duy trì điều trị được định nghĩa vận hành là thực nhận ≥ 80% số chu kỳ Pembrolizumab dự kiến theo kế hoạch điều trị. OS được tính từ ngày bắt đầu điều trị trong VPAP đến tử vong do mọi nguyên nhân; bệnh nhân còn sống được kiểm duyệt tại lần theo dõi cuối. Sống còn được ước lượng bằng Kaplan-Meier; các yếu tố liên quan đến tử vong được phân tích bằng hồi quy Cox.
Kết quả: Tuổi trung vị là 62 tuổi; nam giới chiếm 71,7%. Có 79,6% bệnh nhân đạt tiêu chí duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành; OS trung vị là 8 tháng. Trong mô hình Cox đa biến, ECOG ≥ 2 (HR hiệu chỉnh 11,82; 95% CI: 5,84-23,90; p < 0,001) và tuổi ≥ 65 (HR hiệu chỉnh 1,71; 95% CI: 1,10-2,67; p = 0,018) liên quan với nguy cơ tử vong cao hơn. Nhóm phối hợp hóa trị có HR tử vong thấp hơn sau điều chỉnh; đây là mối liên quan quan sát và có thể còn nhiễu theo chỉ định.
Kết luận: Trong quần thể nghiên cứu, 79,6% bệnh nhân đạt tiêu chí duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành. ECOG kém và tuổi cao liên quan độc lập với sống còn ngắn hơn. Kết quả theo nhóm phác đồ không cho phép suy luận về hiệu quả điều trị nhân quả.