Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn bằng phác đồ Paclitaxel - Carboplatin - Bevacizumab tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2020 đến tháng 9/2025.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 30 bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn bằng phác đồ Paclitaxel - Carboplatin - Bevacizumab tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2020 đến tháng 9/2025. Bệnh nhân được đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đáp ứng điều trị, thời gian sống thêm và độc tính.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,4 ± 8,78 tuổi, nhóm 51–70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (73,3%). Ung thư biểu mô thanh dịch là thể mô bệnh học chủ yếu, chiếm 76,7% tổng số trường hợp. Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 86,6%, trong khi tỷ lệ đáp ứng chung (ORR) là 73,4%. Cụ thể, có 8 bệnh nhân (26,7%) đạt đáp ứng hoàn toàn và 14 bệnh nhân (46,7%) đạt đáp ứng một phần. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) là 15,25 tháng. PFS không có mối liên quan có ý nghĩa với nhóm tuổi, toàn trạng hoặc tình trạng phẫu thuật khi tái phát. Về tính an toàn, hạ bạch cầu hạt là độc tính trên hệ tạo huyết thường gặp nhất, đa số ở mức độ 1–2, trong khi các trường hợp độ 3–4 chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Trong nhóm độc tính ngoài hệ tạo huyết, bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại biên được ghi nhận nhiều nhất với tỷ lệ 53,3%; tuy nhiên chỉ có 2 bệnh nhân (6,7%) xuất hiện độc tính độ 3 và không ghi nhận trường hợp độ 4. Tăng huyết áp độ 1–2 xảy ra ở 3 bệnh nhân, không có trường hợp tăng huyết áp độ 3 hoặc cao hơn. Ngoài ra, 2 bệnh nhân (6,7%) xuất hiện phản vệ độ 3 liên quan đến carboplatin trong chu kỳ điều trị thứ 5 và sau đó được chuyển sang điều trị bằng cisplatin.
Kết luận: Phác đồ Paclitaxel–Carboplatin–Bevacizumab cho thấy hiệu quả điều trị khả quan cùng với hồ sơ an toàn chấp nhận được ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn.