Bài báo khoa học Tập 67 Số Số CĐ12- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (2026) 14/08/2026

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HÓA TRỊ TÂN BỔ TRỢ UNG THƯ VÚ HER2(+) BẰNG PHÁC ĐỒ HÓA TRỊ KẾT HỢP THUỐC KHÁNG HER2 TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

Đặng Thị Hiền1,2, Trần Thị Hoài1,2, Lưu Thị Phương1,2
1 Nghe An Oncology Hospital.
2 Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD12.6146
648 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng điều trị tân bổ trợ ung thư vú HER2 dương tính giai đoạn II - III, sử dụng phác đồ hóa trị kết hợp thuốc kháng Her2 tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 65 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III, HER2(+) được hóa trị liệu tiền phẫu bằng phác đồ AC-TH, TCH, AC-THP hoặc TCHP tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ T6/2023 đến T6/2026.

Kết quả:  84.6% bệnh nhân sử dụng hóa chất kết hợp Trastuzumab, 15.4% bệnh nhân sử dụng hóa chất kết hợp bộ đôi kháng HER (Trastuzumab + Pertuzumab). Phần trăm chung đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học (tpCR) - bao gồm cả khối u nguyên phát và hạch đạt 55.4%. Nhóm đơn chất bằng Trastuzumab tpCR chiếm 54.5%, trong khi đó nhóm điều trị bằng bộ đôi kháng HER tpCR chiếm 60%.  Không ghi nhận sự liên quan giữa tỷ lệ tpCR với  yếu tố như tuổi,  giai đoạn khối u, giai đoạn bệnh, giai đoạn hạch, loại mô bệnh học, độ mô học, biểu hiện Ki-67 hay phác đồ hóa chất sử dụng.

        Kết luận: Hóa trị liệu tiền phẫu với thuốc kháng HER2 cho thấy tỷ lệ tpCR cao ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III, HER2(+). Phần lớn người bệnh đáp ứng tốt trên lâm sàng và mô bệnh học. Sự phối hợp của thuốc kháng HER2 đặc biệt là bộ đôi kháng HER làm tăng hiệu quả  điều trị mà vẫn đảm bảo an toàn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bray F, Laversanne M, Sung H, et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin. 2024;74(3):229-263. doi:10.3322/caac.21834 Google Scholar
[2]
Jagosky M, Tan AR. Combination of Pertuzumab and Trastuzumab in the Treatment of HER2-Positive Early Breast Cancer: A Review of the Emerging Clinical Data. Breast Cancer Targets Ther. 2021;13:393-407. doi:10.2147/BCTT.S176514 Google Scholar
[3]
Valagussa LG. Efficacy and safety of neoadjuvant pertuzumab and trastuzumab in women with locally advanced, inflammatory, or early HER2-positive breast cancer (NeoSphere): a randomised multicentre, open-label, phase 2 trial - Thông tin chi tiết và trích dẫn. Accessed June 24, 2026. Google Scholar
[4]
L G, W E, V S, et al. Neoadjuvant chemotherapy with trastuzumab followed by adjuvant trastuzumab versus neoadjuvant chemotherapy alone, in patients with HER2-positive locally advanced breast cancer (the NOAH trial): a randomised controlled superiority trial with a parallel HER2-negative cohort. Lancet Lond Engl. 2010;375(9712). doi:10.1016/S0140-6736(09)61964-4 Google Scholar
[5]
Phạm Hồng Khoa NHL. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TÂN BỔ TRỢ Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ CÓ HER2 (+) TẠI BỆNH VIỆN K. Accessed June 14, 2026. Google Scholar
[6]
Phùng Thị Huyền PTVA, Phạm Anh Tuấn. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỔ TRỢ TRƯỚC PHÁC ĐỒ HÓA CHẤT KẾT HỢP TRASTUZUMAB VÀ PERTUZUMAB TRÊN UNG THƯ VÚ CÓ HER2-NEU DƯƠNG TÍNH. Accessed June 14, 2026. Google Scholar
[7]
Untch M, Fasching PA, Konecny GE, et al. Pathologic Complete Response After Neoadjuvant Chemotherapy Plus Trastuzumab Predicts Favorable Survival in Human Epidermal Growth Factor Receptor 2–Overexpressing Breast Cancer: Results From the TECHNO Trial of the AGO and GBG Study Groups. J Clin Oncol. 2011;29(25):3351-3357. doi:10.1200/JCO.2010.31.4930 Google Scholar
[8]
M U, M R, S L, et al. Neoadjuvant treatment with trastuzumab in HER2-positive breast cancer: results from the GeparQuattro study. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol. 2010;28(12). doi:10.1200/JCO.2009.23.8451 Google Scholar
[9]
Loibl S, Jassem J, Sonnenblick A, et al. Adjuvant Pertuzumab and Trastuzumab in Early Human Epidermal Growth Factor Receptor 2–Positive Breast Cancer in the APHINITY Trial: Third Interim Overall Survival Analysis With Efficacy Update. J Clin Oncol. 2024;42(31):3643-3651. doi:10.1200/JCO.23.02505 Google Scholar