Bài báo khoa học Tập 67 Số Số CĐ12- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (2026) 14/08/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỐNG THÊM 5 NĂM VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN III ĐIỀU TRỊ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

Nguyễn Hải Hoàng1,2, Lê Sỹ Lâm1,2, Nguyễn Thị Nga1,2, Nguyễn Văn Tiến1,2, Vũ Đình Dương1,2, Nguyễn Tiến Thượng1,2
1 Nghe An Oncology Hospital
2 Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD12.6134
647 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn III bằng hóa xạ trị đồng thời và một số yếu tố tiên lượng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu có theo dõi dọc trên 119 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III được điều trị hóa xạ trị đồng thời tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 3/2019 đến tháng 12/2022.

Kết quả: Tuổi trung bình 59,3 ± 9; tỷ lệ nam/nữ 5/1; giai đoạn IIIB chiếm 50,4%. Tỷ lệ đáp ứng chung đạt 98,3% (đáp ứng hoàn toàn 17,6%). Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) là 12 tháng; trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) là 26 tháng; tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 31,5%. Kích thước u ≤ 5 cm kéo dài trung vị PFS (16 tháng, p = 0,010) và OS (39 tháng, p = 0,041). Giai đoạn IIIA có trung vị PFS và OS (21 và 48 tháng) cao hơn giai đoạn IIIB và IIIC. Tác dụng phụ chủ yếu ở độ 1–2; độ 3–4 chủ yếu là hạ bạch cầu và hạ tiểu cầu.

Kết luận: Hóa xạ trị đồng thời ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III mang lại thời gian sống thêm dài hạn khả quan. Kích thước u nhỏ (≤ 5 cm) và giai đoạn bệnh sớm (IIIA) là những yếu tố tiên lượng giúp kéo dài thời gian sống thêm.

Tài liệu tham khảo
[1]
GLOBOCAN 2022. Estimated cancer incidence, mortality and prevalence worldwide in 2022. International Agency for Research on Cancer. Truy cập tháng 7/2024. http://www.globocan.iarc.fr Google Scholar
[2]
Song Y, Pan X, Dai H, et al. Estimating long-term survival in patients with unresectable stage III non-small cell lung cancer: a mixture cure model analysis. Radiother Oncol. 2024;192:110328. doi:10.1016/j.radonc.2024.110328 Google Scholar
[3]
Nguyễn Việt Hà, Đặng Văn Khoa, Lã Duy Tuyến. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, X-quang, mô bệnh học và bộc lộ yếu tố tăng trưởng biểu bì trong ung thư biểu mô tuyến của phổi. Tạp chí Ung thư Việt Nam. 2014;3:187-194. Google Scholar
[4]
Lê Tuấn Anh và cộng sự. Kết quả sống còn 5 năm và các yếu tố tiên lượng của hóa xạ trị đồng thời ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III. Tạp chí Ung thư Việt Nam. 2016;1:197-202. Google Scholar
[5]
Nguyễn Đức Hạnh, Đặng Văn Khiêm, Đinh Ngọc Việt và cộng sự. Đánh giá kết quả hóa xạ trị đồng thời ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Tạp chí Ung thư Việt Nam. 2018;4:196-203. Google Scholar
[6]
Hồ Văn Trung, Cung Thị Tuyết Anh, Phạm Lương Giang và cộng sự. Xạ trị giảm phân liều ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển tại chỗ – tại vùng. Tạp chí Y học TP. HCM. 2006;10(4):339-344. Google Scholar
[7]
Bùi Công Toàn, Đỗ Anh Tú. Đánh giá kết quả bước đầu hóa – xạ trị đồng thời ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB tại Bệnh viện K. Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 2010;1:239-244. Google Scholar
[8]
Bradley JD, Paulus R, Komaki R, et al. Standard-dose versus high-dose conformal radiotherapy with concurrent and consolidation carboplatin plus paclitaxel with or without cetuximab for patients with stage IIIA or IIIB non-small-cell lung cancer (RTOG 0617): a randomised, two-by-two factorial phase 3 study. Lancet Oncol. 2015;16(2):187-199. doi:10.1016/S1470-2045(14)71207-0 Google Scholar
[9]
Spigel DR, Faivre-Finn C, Gray JE, et al. Five-year survival outcomes from the PACIFIC trial: durvalumab after chemoradiotherapy in stage III non-small-cell lung cancer. J Clin Oncol. 2022;40(12):1301-1311. doi:10.1200/JCO.21.01308 Google Scholar