Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ11-NCKH 31/07/2026

KẾT QUẢ SỬ DỤNG VẬT LIỆU GHÉP RTR CONE BẢO TỒN SỐNG HÀM SAU NHỔ RĂNG KHÔNG SANG CHẤN TẠI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT NĂM 2020-2021

Nguyễn Thị Hà1,2, Nguyễn Phú Thắng3,4, Nguyễn Tri Quyết5,6, Trương Thị Mai Anh7,8, Lã Thu Trang9,10
1 Department of Dentistry, Saint Paul General Hospital
2 Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
3 nstitute of Dental and Maxillofacial Training, Hanoi Medical University
4 Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội
5 Thái Bình University of Medicine and Pharmacy
6 Trường Đại học Y Dược Thái Bình
7 University of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
8 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
9 Hanoi University of Business and Technology
10 Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD11.6023
52 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sử dụng vật liệu ghép RTR Cone bảo tồn sống hàm sau nhổ răng không sang chấn tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội năm 2020-2021.

Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang gồm 40 bệnh nhân được phẫu thuật nhổ răng không sang chấn tại Trung tâm Nha khoa 225 Trường Chinh, thuộc Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 8/2020 đến tháng 7/2021. Các biến số nghiên cứu gồm tuổi, giới, kích thước xương ổ răng trên lát cắt Coronal, Axial, Sagittal ngay sau phẫu thuật nhổ răng và sau 3 tháng, đo mật độ xương, mức độ đau, chảy máu sau phẫu thuật, kết quả sau 3 và 7 ngày phẫu thuật.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 42,88 ± 10,86. Cả nhóm ghép RTR và nhóm chứng đều có kích thước xương ổ răng tại các vị trí đo trên các lát cắt Coronal, Axial và Sagital sau 3 tháng thấp hơn thời điểm ngày đầu tiên sau nhổ răng. Sau 3 tháng, mật độ xương đo được ở cả 2 nhóm chủ yếu là D3. 100% đối tượng đều chỉ đau ngay sau khi phẫu thuật, mức độ đau ít chiếm phần lớn. Sau nhổ răng 7 ngày, 100% đối tượng ở nhóm can thiệp có mức đánh giá kết quả can thiệp ở mức tốt, trong khi tỷ lệ này là 90% ở nhóm đối chứng.

Kết luận: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 42,88 ± 10,86. Kích thước xương ổ răng tại các vị trí đo trên các 3 lát cắt sau 3 tháng thấp hơn thời điểm ngay sau nhổ răng. Sau 3 tháng mật độ xương đo được ở cả 2 nhóm chủ yếu là D3. 100% đối tượng đều chỉ đau ngay sau khi phẫu thuật, mức độ đau ít chiếm phần lớn. Sau nhổ răng 7 ngày, 100% đối tượng ở nhóm can thiệp có mức đánh giá kết quả can thiệp ở mức tốt, trong khi nhóm chứng chỉ đạt được 90%.

Tài liệu tham khảo
[1]
Tan W.L, Wong T.L.T, Wong M.C.M, Lang N.P. A systematic review of post-extractional alveolar hard and soft tissue dimensional changes in humans. Clinical Oral Implants Research, 2012, 23 (s5): 1-21. doi: 10.1111/j.1600-0501. 2011. 02375.x Google Scholar
[2]
Nguyễn Thị Hà. Kết quả sử dụng vật liệu ghép RTR Cone bảo tồn sống hàm sau nhổ răng không sang chấn tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt năm 2020-2021. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2021. Google Scholar
[3]
Vasques A.M.V, Bueno C.R.E et al. Histological bone-healing evaluation of critical-size defects filled with β-tricalcium phosphate in rat tibiae. Appl. Sci, 2024, 14 (9): 3821. doi: 10.3390/app14093821 Google Scholar
[4]
Kyaw E.T, Ngwe T, Naing W. Alveolar Ridge Preservation with Hydroxyapatite/betatricalcium phosphate-Collagen Composite in Maxillary Anterior Teeth. Journal of Dental Science-UDMY, 2021, 1 (1): 26-35. Google Scholar
[5]
Ozzo S, Kheirallah M. The efficiency of two different synthetic bone graft materials on alveolar ridge preservation after tooth extraction: a split-mouth study. BMC Oral Health, 2024, 24 (1): 1040. doi: 10.1186/s12903-024-04803-8 Google Scholar
[6]
Brkovic B.M, Prasad H.S, Rohrer M.D et al. Beta-tricalcium phosphate/type I collagen cones with or without a barrier membrane in human extraction socket healing: clinical, histologic, histomorphometric, and immunohistochemical evaluation. Clinical Oral Investigations, 2012, 16 (2): 581-590. doi: 10.1007/s00784-011-0531-1 Google Scholar