Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BĂNG HUYẾT SAU SINH THƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

Nguyễn Thị Hoàng Trang1,2, Phạm Thanh Nhàn1,2
1 Department of Obstetrics and Gynecology, Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
2 Bộ môn Sản Phụ khoa, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6014
38 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét các yếu tố liên quan độc lập đến băng huyết sau sinh thường tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng giai đoạn 2020-2026.

Phương pháp: Nghiên cứu bệnh-chứng có ghép cặp (1:2), hồi cứu hồ sơ bệnh án, gồm 61 ca băng huyết sau sinh và 122 ca chứng, ghép cặp theo tuổi mẹ, khu vực sinh sống, số lần sinh và tuần thai. Phân tích hồi quy logistic có điều kiện; kết quả biểu diễn qua OR hiệu chỉnh (aOR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).

Kết quả: 4 yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê: thai to > 4000g (aOR = 15,42; 95% CI: 3,21-74,1; p = 0,001), đa ối (aOR = 12,65; 95% CI: 1,48-108,2; p = 0,020), tiền sử băng huyết sau sinh (aOR = 10,12; 95% CI: 1,65-62,0; p = 0,012) và thiếu máu hemoglobin < 110 g/L (aOR = 3,14; 95% CI: 1,45-6,82; p = 0,004). Tiền sản giật và tiền sử nạo/sảy thai không còn liên quan độc lập trong phân tích đa biến.

Kết luận: 4 yếu tố nguy cơ độc lập được xác định có giá trị ứng dụng trực tiếp trong xây dựng bảng kiểm sàng lọc nguy cơ và tối ưu hóa chiến lược dự phòng băng huyết sau sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.

Tài liệu tham khảo
[1]
WHO, UNICEF, UNFPA, World Bank Group, and UNDESA/Population Division. Trends in maternal mortality 2000 to 2020: estimates by WHO, UNICEF, UNFPA, World Bank Group and UNDESA/Population Division, 2023. https://iris.who.int/handle/10665/366225. Google Scholar
[2]
Evensen A, Anderson J.M, Fontaine P. Postpartum hemorrhage: prevention and treatment. American Family Physician, 2017, 95 (7): 442-449. Google Scholar
[3]
Võ Thị Mỹ Dung, Trương Quang Vinh. Nghiên cứu các nguyên nhân băng huyết sau sinh và kết quả điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận. Tạp chí Phụ Sản, 2023, 20 (4): 50-55. doi: 10.46755/vjog.2022.4.1364. Google Scholar
[4]
Nguyễn Gia Định. Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Huế, Đại học Huế, 2020. Google Scholar
[5]
Gestational hypertension and preeclampsia: ACOG Practice Bulletin, number 222. Obstetrics & Gynecology, 2020, 135 (6): e237-e260. doi: 10.1097/AOG.0000000000003891. Google Scholar
[6]
Escobar M.F, Nassar A.H, Theron G et al. FIGO recommendations on the management of postpartum hemorrhage 2022. Int J Gynaecol Obstet, 2022, 157 (Suppl 1): 3-50. Google Scholar
[7]
Wetta L.A, Szychowski J.M et al. Risk factors for uterine atony/postpartum hemorrhage requiring treatment after vaginal delivery. Am J Obstet Gynecol, 2013, 209 (1): 51.e1-51.e6. doi: 10.1016/j.ajog.2013.03.011 Google Scholar
[8]
Phạm Thanh Hải và cộng sự. Yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Bệnh viện Từ Dũ, 2008. Google Scholar
[9]
Al-Zirqi I, Vangen S, Forsen L, Stray-Pedersen B. Prevalence and risk factors of severe obstetric haemorrhage. BJOG: An International Journal of Obstetrics & Gynaecology, 2008, 115 (10): 1265-1272. doi: 10.1111/j.1471-0528.2008.01859.x. Google Scholar
[10]
Oberg A.S, Hernandez-Diaz S, Palmsten K et al. Patterns of recurrence of postpartum hemorrhage in a large population-based cohort. Am J Obstet Gynecol, 2014, 210 (3): 229.e1-229.e8. doi: 10.1016/j.ajog.2013.10.877. Google Scholar