Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU NGOÀI MÀNG CỨNG SAU PHẪU THUẬT LẤY THAI DO BỆNH NHÂN TỰ ĐIỀU KHIỂN BẰNG MÁY PCA TẠI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY NĂM 2025: NHẬN XÉT 30 TRƯỜNG HỢP

Phạm Hòa Hưng1,2, Phùng Văn Chinh3,4, Nguyễn Văn Quang3,4, Phạm Văn Trung3,4, Đoàn Như Thúy3,4, Nguyễn Trung Thành5,6
1 Vinmec Ha Long General Hospital
2 Bệnh viện đa khoa Vinmec Hạ Long
3 Bai Chay Hospital
4 Bệnh viện Bãi cháy
5 Vinmec Hai Phong General Hospital
6 Bệnh viện đa khoa Vimec Hải phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6012
34 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét hiệu quả giảm đau của gây tê ngoài màng cứng do bệnh nhân tự điều khiển.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt trường hợp cho 30 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật lấy thai, được sử dụng phương pháp giảm đau ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) sau phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Bãi Cháy từ tháng 03/2025 đến tháng 10/2025.

Kết quả: Bệnh nhân chủ yếu dưới 30 tuổi (63,3%). Thể tích tiêm liều khởi đầu trung bình là 5,93 ± 0,83 mL, dao động từ 4 đến 7 mL. Điểm đau trung bình (VAS) giảm dần theo thời gian: cao nhất trong 24 giờ đầu (VAS trung bình 4,8 ± 0,9 ngay sau mổ) và giảm còn 1,5 ± 0,4 sau 72 giờ. Tất cả bệnh nhân đều đạt mức giảm đau thỏa đáng, không có trường hợp nào phải chuyển sang giảm đau phương pháp khác. Về liều lượng và mức tiêu thụ thuốc, tổng liều thuốc tê trung bình trong 72 giờ là 287 ± 15 mg. Các tác dụng phụ ghi nhận nhẹ và thoáng qua, chủ yếu là nôn – buồn nôn (26,7%) và ngứa (16,7%), không cần can thiệp điều trị đặc biệt. Không có biến chứng nghiêm trọng như tụt huyết áp, bí tiểu, ức chế hô hấp hoặc đau đầu sau chọc kim.

Kết luận: PCEA cho thấy khả năng kiểm soát đau tốt trong nhóm 30 sản phụ được theo dõi 72 giờ, với tác dụng phụ nhẹ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Maalouf DB, Liu SS. Clinical applications of epidural analgesia. Acute pain management. Cambridge University Press, New York; 2009:114-143. Google Scholar
[2]
Sinatra RS, Jahr JS, Watkins-Pitchford JM (2010), The essence of analgesia and analgesics. Cambridge University Press. Google Scholar
[3]
Shin YS, Doo AR, Park JK (2018). Let's Take Advantage of Mixtures of Bupivacaine or Ropivacaine in Urologic Inguinal and Scrotal Surgery. The World Journal of Men's Health, 36(2), 171-172. Google Scholar
[4]
Phạm QM, Bùi LN (2022). Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật lồng ngực của phương pháp tự điều khiển (PCEA) so với tuyền liên tục (CEI) qua catheter ngoài màng cứng. Tạp chí Y học Việt Nam, 514(1), Google Scholar
[5]
Terheggen MA, Wille F, Borel Rinkes IH, Ionescu TI, Knape JT (2002). Paravertebral blockade for minor breast surgery. Anesth Analg, 94(2), 355-359, table of contents. Google Scholar
[6]
Raja SN, Carr DB, Cohen M, et al. (2020). The revised International Association for the Study of Pain definition of pain: concepts, challenges, and compromises. Pain, 161(9), 1976-1982. Google Scholar
[7]
Bertini L, Mancini S, Di Benedetto P, et al. (2001). Postoperative analgesia by combined continuous infusion and patient‐controlled epidural analgesia (PCEA) following hip replacement: ropivacaine versus bupivacaine. Acta anaesthesiologica scandinavica, 45(6), 782-785. Google Scholar
[8]
Pouzeratte Y, Delay JM, Brunat G, et al. (2001). Patient-controlled epidural analgesia after abdominal surgery: ropivacaine versus bupivacaine. Anesthesia & Analgesia, 93(6), 1587-1592. Google Scholar
[9]
Parker RK, White PF (1992). Epidural patient-controlled analgesia: an alternative to intravenous patient-controlled analgesia for pain relief after cesarean delivery. Anesthesia & Analgesia, 75(2), 245-251. Google Scholar
[10]
Maca J, Neiser J, Grasslova L, Trlicova M, Streitov D, Zoubkova R (2020). Patient-controlled epidural analgesia versus conventional epidural analgesia after total hip replacement--a randomized trial. Biomedical Papers of the Medical Faculty of Palacky University in Olomouc, 164(1), Google Scholar
[11]
Nguyễn Hữu Tài (2020). So sánh hiệu quả gây tê ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) bằng levobupivacain và ropivacain sau mổ lấy thai, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP.HCM. Google Scholar
[12]
Trần Thị Thu Hằng (2021). Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) bằng levobupivacain kết hợp fentanyl sau mổ lấy thai, Luận văn Thạc sĩ Y học, Học viện Quân y. Google Scholar