Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

KẾT QUẢ XỬ TRÍ THAI CHẾT LƯU SAU 24 TUẦN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI KHOA TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Phan Thị Huyền Thương1,2,3,4, Phan Thị Huyền Thương1,2,3,4, Đỗ Tuấn Đạt1,5,6,7
1 Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital
2 University of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
3 1Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
4 Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Hanoi Medical University
6 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
7 Trường Đại học Y Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.5981
29 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả xử trí các trường hợp thai chết lưu sau 24 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong năm 2023.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả dựa vào hồ sơ bệnh án của 105 sản phụ thai chết lưu sau 24 tuần được xử trí bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.

Kết quả: Trong 105 sản phụ thai chết lưu chuyển dạ bằng thuốc, có 67,6% sử dụng Misoprostol và 32,4% sử dụng Oxytocin. Trong 71 bệnh nhân chuyển dạ bằng Misoprotol, 87,3% thành công với liều phổ biến là 125-150 µg và 175-200 µg. Tuổi thai càng cao, liều Misoprostol đặt âm đạo càng thấp (p < 0,05). 100% sản phụ sử dụng Oxytocin đều gây chuyển dạ thành công với liều phổ biến là 10-20 IU. 46,9% khởi phát chuyển dạ trong vòng 24 giờ và tuổi thai càng lớn, thời gian chuyển dạ càng ngắn (p < 0,05). 79% trường hợp không xảy ra biến chứng khi điều trị thai chết lưu bằng phương pháp nội khoa. Ngoài ra, có thể gặp biến chứng chảy máu (14,3%) và nhiễm khuẩn (6,7%).

Kết luận: Misoprostol là lựa chọn ưu tiên hơn Oxytocin để gây chuyển dạ cho các trường hợp thai chết lưu (67,6% so với 32,4%), tương tự với nhiều nghiên cứu khác. Tuổi thai có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến loại thuốc, liều thuốc khởi phát và kết quả gây chuyển dạ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế. Thai chết lưu trong tử cung. Hướng dẫn quốc gia Việt Nam về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, 2016. Google Scholar
[2]
World Health Organization. Stillbirth. Accessed July 15, 2025. https://www.who.int/health-topics/stillbirth Google Scholar
[3]
Phạm Huy Cường. Nghiên cứu về chẩn đoán và xử trí thai chết lưu từ 22 tuần trở lên tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2016. Google Scholar
[4]
Phùng Quang Hùng. Tình hình thai chết lưu vào điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 6/2005 đến 5/2006. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2006. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thị Dung. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí thai chết lưu tại Bệnh viện Phụ Sản Thanh Hóa năm 2013. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014. Google Scholar
[6]
Lê Thị Thúy. Nghiên cứu nguyên nhân và thái độ xử trí thai chết lưu quý 3 thai kỳ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong 2 năm 2013 và 2014. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014. Google Scholar
[7]
Trần Thùy Linh. Nhận xét thái độ xử trí thai chết lưu từ 22 tuần trở lên ở thai phụ có sẹo mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2017. Google Scholar
[8]
Gómez Ponce de León R, Wing D, Fiala C. Misoprostol for intrauterine fetal death. Int J Gynecol Obstet, 2007, 99 (Suppl 2): S190-3. doi: 10.1016/j.ijgo.2007.09.010. Google Scholar