Mục tiêu nghiên cứu: TNT niệu, điểm King và xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan mạn do nhiễm độc TNT nghề nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu: 177 bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan mạn tính do tiếp xúc TNT nghề nghiệp; nghiên cứu mô tả cắt ngang; lấy mẫu toàn bộ: sinh thiết gan làm MBH, TNT niệu; giai đoạn xơ hóa gan theo Metavir; điểm King.
Kết quả nghiên cứu: BN nhóm F0 (55,9%), F1 (36,2%), F2 (7,9%); phát hiện TNT trong nước tiểu (61,0%). Nhóm không có xơ hóa gan đáng kể, 97 BN phát hiện TNT niệu (59,5%) thấp hơn nhóm có xơ hóa gan đáng kể chiếm (78,6%). Nhóm xơ hóa gan F2 có điểm King cao nhất (5,36 ± 1,68), thấp nhất là nhóm F0 (4,69 ± 1,09), giá trị trung bình của điểm King tăng dần từ nhóm F0, F1, F2. Điểm King ở nhóm có xơ hóa gan (4,86 ± 1,50), cao hơn so với nhóm không có xơ hóa gan (4,69 ± 1,09). Điểm King ở nhóm có xơ hóa gan đáng kể (5,36 ± 1,68), cao hơn so với nhóm không có xơ hóa gan đáng kể (4,71 ± 1,24).
Kết luận: TNT nước tiểu chiếm 61%. Nhóm không có xơ hóa gan đáng kể, 97 BN phát hiện TNT niệu (59,5%) thấp hơn nhóm có xơ hóa gan đáng kể (78,6%). Giá trị trung bình của điểm King tăng dần F0, F1, F2; ở nhóm F≥1 (4,86 ± 1,50) cao hơn F0 (4,69 ± 1,09), p=0,478. Nhóm F≥2 (5,36 ± 1,68) cao hơn F<2 (4,71 ± 1,24), p=0,144.