Bài báo khoa học Tập 67 Số 7 26/07/2026

NGHIÊN CỨU TNT NIỆU, ĐIỂM KING VÀ MỨC ĐỘ XƠ HÓA GAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN MẠN DO NHIỄM ĐỘC TRINITROTOLUEN NGHỀ NGHIỆP

Nguyễn Văn Bằng1,2, Đinh Thị Phương Liên1,2, Trần Thị Ngọc Ánh3,4
1 Military hospital 103, Vietnam Military Medical University
2 Bệnh viện Quân y 103- Học viện Quân y
3 Ha Noi Center for Control Disease
4 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67i7.5886
26 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

   Mục tiêu nghiên cứu: TNT niệu, điểm King và xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan mạn do nhiễm độc TNT nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu: 177 bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan mạn tính do tiếp xúc TNT nghề nghiệp; nghiên cứu mô tả cắt ngang; lấy mẫu toàn bộ: sinh thiết gan làm MBH, TNT niệu; giai đoạn xơ hóa gan theo Metavir; điểm King.

Kết quả nghiên cứu: BN nhóm F0 (55,9%), F1 (36,2%), F2 (7,9%); phát hiện TNT trong nước tiểu (61,0%). Nhóm không có xơ hóa gan đáng kể, 97 BN phát hiện TNT niệu (59,5%) thấp hơn nhóm có xơ hóa gan đáng kể chiếm (78,6%). Nhóm xơ hóa gan F2 có điểm King cao nhất (5,36 ± 1,68), thấp nhất là nhóm F0 (4,69 ± 1,09), giá trị trung bình của điểm King tăng dần từ nhóm F0, F1, F2. Điểm King ở nhóm có xơ hóa gan (4,86 ± 1,50), cao hơn so với nhóm không có xơ hóa gan (4,69 ± 1,09). Điểm King ở nhóm có xơ hóa gan đáng kể (5,36 ± 1,68), cao hơn so với nhóm không có xơ hóa gan đáng kể (4,71 ± 1,24).

Kết luận: TNT nước tiểu chiếm 61%. Nhóm không có xơ hóa gan đáng kể, 97 BN phát hiện TNT niệu (59,5%) thấp hơn nhóm có xơ hóa gan đáng kể (78,6%). Giá trị trung bình của điểm King tăng dần F0, F1, F2; ở nhóm F≥1  (4,86 ± 1,50) cao hơn F0 (4,69 ± 1,09), p=0,478. Nhóm F≥2 (5,36 ± 1,68) cao hơn F<2 (4,71 ± 1,24), p=0,144.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lê Trung (2002), Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 634-641. Google Scholar
[2]
Nguyễn Phúc Thái (1998), Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với trinitrotoluen và thăm dò tác dụng bảo vệ của cà gai leo trên thực nghiệm, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y. Google Scholar
[3]
Nguyễn Liễu (1995), Nghiên cứu tác hại của thuốc nổ TNT với những người tiếp xúc trực tiếp với chúng trong thời gian dài, Luận án Phó Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y. Google Scholar
[4]
Agency for Toxic Substances and Disease Registry - U.S. Department of Health and Human Services (1995), Toxicological Profile for 2,4,6-Trinitrotoluene,Atlanta, Georgia, U.S. Google Scholar
[5]
Nguyễn Minh Hiếu (2001), Nghiên cứu tổn thương máu và cơ quan tạo máu trên người tiếp xúc nghề nghiệp và động vật gây nhiễm độc thực nghiệm với TNT, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y. Google Scholar
[6]
Subasi C.F., Aykut U.E., Yilmaz Y. (2015). Comparison of noninvasive scores for the detection of advanced fibrosis in patients with nonalcoholic fatty liver disease. Eur J Gastroenterol Hepatol, 27(2): 137-41. doi:10.1111/j.1440-1746.2011.06835 Google Scholar
[7]
Bộ y tế (1993). định lượng Methemoglobin trong máu. Thường quy kỹ thuật y học lao động và vệ sinh môi trường. Google Scholar
[8]
Cross T.J., Rizzi P., Berry P.A., et al. (2009). King's Score: an accurate marker of cirrhosis in chronic hepatitis C. Eur J Gastroenterol Hepatol, 21(7): 730-8. doi: 10.1097/MEG.0b013e328329212c Google Scholar
[9]
Gudowska M., Gruszewska E., Panasiuk A., et al. (2016). Selected Noninvasive Markers in Diagnosing Liver Diseases. Lab Med, 47(1): 67-72. https://doi.org/10.1093/la Google Scholar