Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, BIẾN CHỨNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC BỆNH NHI BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI LỌC MÁU CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2, NĂM 2025

Hứa Thị Kim Thoa1,2, Nguyễn Khoa Bình Minh1,2, Hoàng Ngọc Quý1,2, Trần Thị Thu Thủy1,2, Nguyễn Thị Hồng Minh3,4, Huỳnh Thị Vũ Quỳnh2,5,6,7
1 Children's Hospital 2
2 Bệnh viện Nhi Đồng 2
3 University Medical Center Ho Chi Minh City
4 Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
5 Children’s Hospital 2
6 University of Medicine and Pharmacy, HCM City
7 Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5874
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, xác định tỷ lệ biến chứng trong lọc máu chu kỳ và đánh giá kết quả chăm sóc ở bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) trong lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 70 bệnh nhi BTMGĐC có lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nội tiết - Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 01/2025 đến 04/2025. Số liệu thu thập đươc là bệnh án nghiên cứu về biến chứng của bệnh nhi trong buổi lọc máu chu kỳ và chăm sóc, tư vấn cho bệnh nhi.

Kết quả: Phù là triệu chứng phổ biến nhất với 57,1%, tiếp theo là ngứa 22,9%. Tỷ lệ bệnh nhi có biến chứng trong lọc máu là 25,7%, trong đó biến chứng tăng huyết áp là phổ biến nhất chiếm 12,9%. Chăm sóc bệnh nhi trong lọc máu chu kỳ được thực hiện tốt chiếm tỷ lệ 91,4% và tư vấn giáo dục sức khỏe bệnh nhi trong lọc máu chu kỳ được thực hiện tốt chiếm tỷ lệ 84,3%.

Kết luận: Các biến chứng ở bệnh nhi lọc máu chu kỳ cần được quan tâm hơn. Nên tăng cường chăm sóc cũng như tư vấn giáo dục sức khỏe, đặc biệt là các nội dung liên quan đến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và theo dõi mức tăng cân giữa hai lần lọc máu, giúp cải thiện các vấn đề liên quan đến biến chứng ở bệnh nhi lọc máu chu kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Đặng Thị Hân và cộng sự (2022) ,“Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2021”, Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, tập 5 (2), tr.133-143. Google Scholar
[2]
Bùi Thị Huệ và cộng sự (2022), “Kết quả chăm sóc người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021”, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 512 (2), tr.242-254. Google Scholar
[3]
Dương Minh Kỳ, Lê Thị Bình (2021), “Thực trạng biến chứng trong lọc máu và kết quả chăm sóc người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối có lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau”, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 505 (1), tr.194-199. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Mận, Nguyễn Thị Vinh (2023), “Kết quả chăm sóc người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2023”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, số 26, tr.17-25. Google Scholar
[5]
Neri L., et al (2020)., “Clinical target achievement is associated with better quality of life among dialysis patients: Results from a continuous quality improvement program in a Portuguese healthcare network”, Quality of Life Research, vol. 29 (10), pp.2705-2714. Google Scholar
[6]
Tran Thi Mong H, et al (2008), “Etiology and outcome of chronic renal failure in hospitalized children in Ho Chi Minh City, Vietnam”, Pediatric Nephrology, Belgium, vol. 23 (6), pp.965-970. Google Scholar