Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

NỘI SOI ĐÓNG LỖ BẸN SÂU NGOÀI PHÚC MẠC TRONG THOÁT VỊ BẸN TÁI PHÁT KÈM TỔN THƯƠNG ĐỐI BÊN TIỀM ẨN Ở TRẺ EM: BÁO CÁO CA BỆNH

Phạm Ngọc Thạch1,2, Trần Quốc Việt1,2, Văn Thị Thùy Linh1,2, Hoàng Đặng Hoài Linh1,2, Võ Trần Thanh Trúc1,2
1 Children's Hospital 2
2 Bệnh viện Nhi Đồng 2
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5872
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Báo cáo một trường hợp thoát vị bẹn tái phát sau mổ mở một bên, được phát hiện kèm tổn thương đối bên tiềm ẩn và xử trí trong một lần phẫu thuật nội soi.

Ca lâm sàng: Bệnh nhi nam 5,5 tuổi, cân nặng 32 kg, có tiền sử mổ mở thoát vị bẹn trái tại bệnh viện khác 18 tháng trước (tính đến ngày phẫu thuật 05/07/2025). Trẻ nhập viện vì khối phồng bẹn–bìu trái rõ; bẹn phải không triệu chứng. Chỉ định phẫu thuật dựa trên lâm sàng và kế hoạch nội soi ổ bụng thăm dò–điều trị. Nội soi xác định thoát vị bẹn tái phát bên trái và phát hiện lỗ bẹn sâu bên phải còn mở (thoát vị đối bên tiềm ẩn). Bệnh nhi được đóng lỗ bẹn sâu ngoài phúc mạc bằng nội soi hỗ trợ với kỹ thuật bóc tách thủy lực (hydrodissection) và khâu/cột hai mũi (double stitches) bằng chỉ Prolene 3/0, sử dụng 02 trocar qua rốn và vùng bụng thấp bên phải. Thời gian mổ 45 phút. Hậu phẫu không biến chứng; trẻ được quản lý theo mô hình phẫu thuật trong ngày và ra viện trong ngày. Theo dõi đến tháng 03/2026 (8 tháng sau mổ) không ghi nhận biến chứng, tái phát.

Kết luận: Ca bệnh gợi ý nội soi là lựa chọn hữu ích trong một số trường hợp thoát vị bẹn tái phát, đặc biệt khi cần đánh giá đối bên, phù hợp định hướng phẫu thuật ít xâm lấn và phẫu thuật trong ngày.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Việt Hoa, Phạm Quang Hùng, Vũ Hồng Tuân (2022) "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn ở trẻ em có sử dụng kim xuyên qua da tự chế". Tạp chí Y học Việt Nam, 510, (1). Google Scholar
[2]
Phạm Ngọc Thạch, Trần Quốc Việt, Nguyễn Hiền, Phan Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Thanh Trúc, Hồ Phi Duy, Trần Thanh Trí (2022) "nghiên cứu tiến cứu so sánh kết quả phẫu thuật nội soi khâu lỗ bẹnsâu ngoài phúc mạc so với kỹ thuậtmổ mở điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em". Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 519, (Số chuyên đề tháng 10), tr.283 - 290. Google Scholar
[3]
Phạm Ngọc Thạch, Trần Quốc Việt, Trần Trọng Phương Trừ, Mai Thị Trọn, Lưu Thanh Bình, Nguyễn Minh Ngọc (2022) "Khảo sát thực trạng phẫu thuật điều trịthoát vị bẹn bẩm sinh ở trẻ em tại Việt Nam". Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 519, (Số chuyên đề tháng 10), tr.275 - 283. Google Scholar
[4]
Oliver B Lao, Robert J Fitzgibbons, Robert A Cusick (2012) "Pediatric inguinal hernias, hydroceles, and undescended testicles". Surgical Clinics, 92, (3), 487-504. Google Scholar
[5]
Cheng-Hung Lee, Yun Chen, Chi-Fu Cheng, Chao-Lin Yao, Jin-Chia Wu, Wen-Yao Yin, Jian-Han Chen (2016) "Incidence of and risk factors for pediatric metachronous contralateral inguinal hernia: analysis of a 17-year nationwide database in Taiwan". PLoS One, 11, (9), e0163278. Google Scholar
[6]
Tran Ngoc Son, Hoang Van Bao (2021) "Single incision laparoscopic percutaneous extraperitoneal closure of internal ring for incarcerated inguinal hernia in children: A single center experience with 104 cases". Journal of Laparoendoscopic & Advanced Surgical Techniques, 31, (12), 1449-1454. Google Scholar
[7]
Kathrin Wenk, Beate Sick, Tom Sasse, Ueli Moehrlen, Martin Meuli, Raphael N Vuille-dit-Bille (2015) "Incidence of metachronous contralateral inguinal hernias in children following unilateral repair—a meta-analysis of prospective studies". Journal of pediatric surgery, 50, (12), 2147-2154. Google Scholar
[8]
Kelly Dreuning, Sanne Maat, Jos Twisk, Ernest van Heurn, Joep Derikx (2019) "Laparoscopic versus open pediatric inguinal hernia repair: state-of-the-art comparison and future perspectives from a meta-analysis". Surgical endoscopy, 33, (10), 3177-3191. Google Scholar