Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DƯỢC LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG NĂM 2025

Mai Hữu Lực1,2, Tạ Văn Trầm1,2,3,4, Trần Hữu Thế3,4, Lưu Thanh Sang3,4
1 Tra Vinh University
2 Đại học Trà Vinh
3 Tien Giang General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5862
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hoạt động dược lâm sàng tại các cơ sở khám chữa bệnh ngày càng được quan tâm do góp phần bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và nâng cao an toàn người bệnh.

          Mục tiêu: Mô tả thực trạng hoạt động dược lâm sàng, sai sót y lệnh thuốc, hoạt động can thiệp của dược sĩ lâm sàng và phân tích thăm dò một số yếu tố liên quan đến sai sót y lệnh thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2025.

  Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 259 y lệnh thuốc nội trú năm 2025; đồng thời tổng hợp thông tin từ 8 dược sĩ lâm sàng và 50 bác sĩ điều trị. Dữ liệu y lệnh thuốc năm 2025 được trích xuất và phân tích hồi cứu trong giai đoạn 01–03/2026. Mẫu y lệnh được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống kết hợp phân bố theo các khoa lâm sàng. Số liệu được mô tả bằng tần số, tỷ lệ, khoảng tin cậy 95%; các yếu tố liên quan được phân tích thăm dò bằng kiểm định phù hợp với tần số ô.

     Kết quả: Trong 259 y lệnh thuốc nội trú, ghi nhận 6 y lệnh có sai sót hoặc vấn đề liên quan đến thuốc, chiếm 2,32% (KTC 95%: 0,85–4,97). Cả 6 trường hợp ghi nhận đều có can thiệp của dược sĩ lâm sàng và được bác sĩ chấp nhận. Y lệnh có ≥7 thuốc liên quan đến sai sót trong phân tích thăm dò (OR = 6,23; KTC 95%: 1,22–31,85; p = 0,03). Bác sĩ chưa được đào tạo về dược lâm sàng (OR = 13,82; KTC 95%: 2,48–76,92; p < 0,01) và bác sĩ trình độ đa khoa chưa có sau đại học (OR = 3,16; KTC 95%: 1,58–17,30; p = 0,04) cũng có liên quan đến sai sót. Thời gian can thiệp trung bình là 7,5 phút.

    Kết luận: Hoạt động dược lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang bước đầu thể hiện vai trò trong phát hiện và can thiệp sai sót y lệnh thuốc nội trú. Tuy nhiên, do thiết kế mô tả cắt ngang và số sự kiện sai sót ít, các kết luận về hiệu quả cần được diễn giải thận trọng. Bệnh viện cần ưu tiên kiểm soát y lệnh nhiều thuốc, tăng cường đào tạo dược lâm sàng cho bác sĩ, chuẩn hóa tiêu chí phân loại sai sót và rút ngắn thời gian can thiệp

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế. (2012). Thông tư số 31/2012/TT-BYT hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện. Hà Nội, Việt Nam. Google Scholar
[2]
Quốc hội. (2023). Luật Dược số 105/2016/QH13 (sửa đổi, bổ sung năm 2023). Hà Nội, Việt Nam. Google Scholar
[3]
Nguyễn Phục Hưng (2021). Đánh giá một số chỉ số sử dụng thuốc tại Trung tâm Y tế Huyện Phong Điền giai đoạn 2019-2020, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 500, (1), Trang 8 - 21. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Minh Khoa (2020). Phân tích thực trạng kê toa và tương tác thuốc tại khoa khám bệnh viện Tim mạch thành phố Cần Thơ năm 2019, Tạp chí Y học Việt Nam. 2020. Google Scholar
[5]
Phạm Đình Thọ (2021). Thực trạng việc kê toa thuốc điều trị ngoại trú cho người bệnh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, 16, (7). Google Scholar
[6]
World Health Organization. (2023). Global patient safety action plan 2021–2030: Medication without harm initiative. https://www.who.int/publications/i/item/9789240037232. Google Scholar