Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em vẫn là vấn đề sức khỏe toàn cầu, với khoảng 22,3% trẻ dưới 5 tuổi bị thấp còi và 6,8% bị gầy còm trên toàn thế giới. Tỷ lệ SDD ở bệnh nhi nội trú còn cao hơn và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Theo khuyến cáo của Hội Nhi khoa Việt Nam, tất cả bệnh nhi cần được sàng lọc nguy cơ SDD trong vòng 36 giờ sau nhập viện nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Tuy nhiên, đánh giá SDD hiện nay chủ yếu dựa vào chỉ số nhân trắc có thể bỏ sót các trường hợp nguy cơ.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tình trạng dinh dưỡng theo các hình thức đánh giá và phân tích nguy cơ SDD và các yếu tố liên quan ở bệnh nhi nội trú.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhi nội trú tại các khoa Nội Tổng hợp, Nội 1, Tim mạch, Tiêu hóa và Thận. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng các chỉ số nhân trắc theo tiêu chuẩn WHO kết hợp với sàng lọc nguy cơ SDD dựa trên các yếu tố lâm sàng như giảm lượng ăn, sụt cân và bệnh lý nền.
quả: Nguy cơ SDD ở bệnh nhi nội trú vẫn ở mức đáng kể với mức 82,2% (nhẹ: 54,0%; vừa: 18,3%; nặng: 7,7%; rất nặng: 2,2%) trẻ có nguy cơ SDD theo thang đo Hội Nhi khoa Việt Nam. Nhiều bệnh nhi có nguy cơ SDD dù chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán SDD theo nhân trắc; cụ thể tỷ lệ có SDD theo BMI/T là 23,5%, CN/CC là 30,8% và CC/T là 40,6%. Đặc biệt, nguy cơ SDD liên quan chặt chẽ với bệnh lý (p < 0,05), cao nhất ở các nhóm bệnh tiêu hóa, hô hấp, tim mạch, thận, miễn dịch, ngoại khoa và nội tiết.
Kết luận: SDD và nguy cơ SDD ở bệnh nhi nội trú là vấn đề cần được quan tâm. Sàng lọc nguy cơ SDD sớm bằng công cụ bảng điểm giúp phát hiện thêm nhóm bệnh nhi có nguy cơ SDD dù chưa SDD trên nhân trắc, giúp phát hiện sớm các trường hợp nguy cơ và cải thiện kết cục điều trị.
Kết quả trong tóm tắt quá chung chung, thiếu số liệu chính
Tóm tắt ghi “tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn ở mức đáng kể”, “một tỷ lệ lớn bệnh nhi có nguy cơ” nhưng không nêu tỷ lệ cụ thể. Đây là điểm yếu lớn của tóm tắt.
Cần bổ sung các số liệu chính:
Tỷ lệ SDD theo WHO.
Tỷ lệ nguy cơ SDD theo thang điểm.
Tỷ lệ nguy cơ trung bình/nặng/rất nặng.
Tỷ lệ bị bỏ sót nếu chỉ dùng nhân trắc.
Nhóm bệnh có nguy cơ cao nhất.
Không nên dùng các cụm định tính như “đáng kể”, “một tỷ lệ lớn” mà không có số.
Bổ sung đầy đủ số liệu chính xác về tỷ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng theo thang đo của Hội Nhi khoa Việt Nam (bao gồm cả tỷ lệ cụ thể ở các mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng).
Thêm số liệu cụ thể về tỷ lệ suy dinh dưỡng theo các chỉ số nhân trắc của WHO bao gồm BMI/T, CN/CC, và CC/T.
Đưa vào số liệu chứng minh rõ ràng sự thay đổi, chênh lệch về tỷ lệ phát hiện bệnh nhi có nguy cơ sau khi áp dụng sàng lọc bằng thang đo của Hội Nhi khoa Việt Nam so với khi chỉ dùng nhân trắc đơn thuần.
NỘI DUNG CHỈNH SỬA: Phần kết quả (TÓM TẮT)