Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

NGUY CƠ SUY DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHI NỘI KHOA ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2025

Nguyễn Thị Thu Hậu1,2, Trần Quốc Tú3,4, Trần Quỳnh Hương1,2, Trần Quốc Tuấn1,2, Bùi Nguyễn Đoan Thư1,2, Đinh Thị Kim Thoa1,2, Nguyễn Thị Ngọc Vân1,2
1 Children's Hospital 2
2 Bệnh viện Nhi Đồng 2
3 Ho Chi Minh City University of Technology - VNUHCM.
4 Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5858
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em vẫn là vấn đề sức khỏe toàn cầu, với khoảng 22,3% trẻ dưới 5 tuổi bị thấp còi và 6,8% bị gầy còm trên toàn thế giới. Tỷ lệ SDD ở bệnh nhi nội trú còn cao hơn và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Theo khuyến cáo của Hội Nhi khoa Việt Nam, tất cả bệnh nhi cần được sàng lọc nguy cơ SDD trong vòng 36 giờ sau nhập viện nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Tuy nhiên, đánh giá SDD hiện nay chủ yếu dựa vào chỉ số nhân trắc có thể bỏ sót các trường hợp nguy cơ.

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tình trạng dinh dưỡng theo các hình thức đánh giá và phân tích nguy cơ SDD và các yếu tố liên quan ở bệnh nhi nội trú.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhi nội trú tại các khoa Nội Tổng hợp, Nội 1, Tim mạch, Tiêu hóa và Thận. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng các chỉ số nhân trắc theo tiêu chuẩn WHO kết hợp với sàng lọc nguy cơ SDD dựa trên các yếu tố lâm sàng như giảm lượng ăn, sụt cân và bệnh lý nền.

  quả: Nguy cơ SDD ở bệnh nhi nội trú vẫn ở mức đáng kể với mức 82,2% (nhẹ: 54,0%; vừa: 18,3%; nặng: 7,7%; rất nặng: 2,2%) trẻ có nguy cơ SDD theo thang đo Hội Nhi khoa Việt Nam. Nhiều bệnh nhi có nguy cơ SDD dù chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán SDD theo nhân trắc; cụ thể tỷ lệ có SDD theo BMI/T là 23,5%, CN/CC là 30,8% và CC/T là 40,6%. Đặc biệt, nguy cơ SDD liên quan chặt chẽ với bệnh lý (p < 0,05), cao nhất ở các nhóm bệnh tiêu hóa, hô hấp, tim mạch, thận, miễn dịch, ngoại khoa và nội tiết.

Kết luận: SDD và nguy cơ SDD ở bệnh nhi nội trú là vấn đề cần được quan tâm. Sàng lọc nguy cơ SDD sớm bằng công cụ bảng điểm giúp phát hiện thêm nhóm bệnh nhi có nguy cơ SDD dù chưa SDD trên nhân trắc, giúp phát hiện sớm các trường hợp nguy cơ và cải thiện kết cục điều trị.

 

Kết quả trong tóm tắt quá chung chung, thiếu số liệu chính

Tóm tắt ghi “tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn ở mức đáng kể”, “một tỷ lệ lớn bệnh nhi có nguy cơ” nhưng không nêu tỷ lệ cụ thể. Đây là điểm yếu lớn của tóm tắt.

Cần bổ sung các số liệu chính:

Tỷ lệ SDD theo WHO.

Tỷ lệ nguy cơ SDD theo thang điểm.

Tỷ lệ nguy cơ trung bình/nặng/rất nặng.

Tỷ lệ bị bỏ sót nếu chỉ dùng nhân trắc.

Nhóm bệnh có nguy cơ cao nhất.

Không nên dùng các cụm định tính như “đáng kể”, “một tỷ lệ lớn” mà không có số.

 

Bổ sung đầy đủ số liệu chính xác về tỷ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng theo thang đo của Hội Nhi khoa Việt Nam (bao gồm cả tỷ lệ cụ thể ở các mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng).

 

Thêm số liệu cụ thể về tỷ lệ suy dinh dưỡng theo các chỉ số nhân trắc của WHO bao gồm BMI/T, CN/CC, và CC/T.

 

Đưa vào số liệu chứng minh rõ ràng sự thay đổi, chênh lệch về tỷ lệ phát hiện bệnh nhi có nguy cơ sau khi áp dụng sàng lọc bằng thang đo của Hội Nhi khoa Việt Nam so với khi chỉ dùng nhân trắc đơn thuần.

 

NỘI DUNG CHỈNH SỬA: Phần kết quả (TÓM TẮT)

Tài liệu tham khảo
[1]
McCarthy A, Delvin E, Marcil V, et al. Prevalence of malnutrition in pediatric hospitals in developed and in-transition countries: The impact of hospital practices. Nutrients. 2019. Google Scholar
[2]
Hulst JM, Zwart H, Hop WC, Joosten KFM. Dutch national survey to test the STRONGkids nutritional risk screening tool in hospitalized children. Clinical Nutrition. 2009. Google Scholar
[3]
Hội Nhi Khoa Việt Nam. Đồng thuận: Hướng dẫn sàng lọc, đánh giá và can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhi. Hà Nội; 2024. Google Scholar
[4]
Wessner S, Burjonrappa S. Review of nutritional assessment and clinical outcomes in pediatric surgical patients: Does preoperative nutritional assessment impact clinical outcomes? Journal of Pediatric Surgery. 2014;49:823-830. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thị Thu Hậu, Nguyễn Hoàng Thanh Uyên, Nguyễn Thu Dung, Nguyễn Thị Tuyết Dung, Mai Quang Huỳnh Mai, và cộng sự. Tầm soát nguy cơ và tỉ lệ suy dinh dưỡng cấp tính ở bệnh nhi nội trú Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2021;25(3):28-34. Google Scholar
[6]
Nguyễn Thị Tuyết Dung, Nguyễn Thị Thu Hậu, Trần Thị Hoài Phương, Nguyễn Hữu Lộc, Trần Phúc Phương. Thực trạng chỉ định khám dinh dưỡng của bệnh nhi nội trú tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022:122-128. Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Thu Hậu, Nguyễn Trương Kim Ngân, Phạm Thị Đức Lợi. Sụt cân ở trẻ em sau nhập viện: Tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ tại khoa Nội 3, Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2025;66(số đặc biệt 16):162-167. Google Scholar
[8]
Nguyen Thi Thu Hau, Nguyen Minh Chau, Doan Thi Ngoc Han, et al. Weight loss in pneumonia patients aged 6-60 months treated at children's hospital 2 and its relationship to length of hospital stay and treatment response. VN J Nutr Food . 2024; 20(3E). p66-72. doi: 10.56283/1859-0381/714 Google Scholar
[9]
Becker P, Carney LN, Corkins MR, Monczka J, Smith E, Smith SE, et al. Consensus Statement of the Academy of Nutrition and Dietetics/American Society for Parenteral and Enteral Nutrition: Indicators Recommended for the Identification and Documentation of Pediatric Malnutrition (Undernutrition). Nutrition in Clinical Practice. 2015;30(1):147-161. Google Scholar
[10]
National Institute of Nutrition. Anthropometric assessment of nutritional status in the community. National Institute of Nutrition; Available from: https://viendinhduong.vn/vi/article/tin-tuc/cach-danh-gia-tinh-trang-dinh-duong-bang-nhan-trac-tai-cong-dong-68ab03e5c63007e10f05ca85. Accessed June 10, 2026. Google Scholar