Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TIM BẨM SINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỬ VONG TRONG BỆNH VIỆN TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 GIAI ĐOẠN 2018 – 2022

Nguyễn Trần Việt Tánh1,2, Phạm Viết Hoàng1,2, Nguyễn Cao Hoàng Nam1,2, Hồ Văn Anh Dũng1,2, Lê Thị Duyên Ngọc1,2, Hoàng Sỹ Quang1,2, Lâm Trung Hiếu1,2, Nguyễn Thị Ánh Thoa1,2, Nguyễn Văn Lộc1,2, Trịnh Hữu Tùng1,2
1 Children's Hospital 2
2 Bệnh viện Nhi Đồng 2
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5851
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả phẫu thuật tim bẩm sinh (TBS) và xác định các yếu tố liên quan đến tử vong trong bệnh viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 giai đoạn 2018–2022.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đơn trung tâm trên 900 bệnh nhi phẫu thuật TBS. Phân tích hồi quy logistic đa biến theo hai mô hình: Mô hình 1 gồm các yếu tố trước mổ; Mô hình 2 bổ sung biến chứng hậu phẫu để thăm dò mối liên quan của yếu tố này với tử vong. Hiệu suất đánh giá bằng AUC-ROC và Hosmer-Lemeshow.

Kết quả: Nam 53,2%; tuổi trung bình 483 ngày (trung vị 215). Nhũ nhi 51,8%; suy dinh dưỡng 28,4%. TLT phổ biến nhất (48,4%). Tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là 5,7% (51/900). Tỷ lệ này có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021–2022, cao hơn so với giai đoạn trước dịch 2018–2019 (7,2% so với 4,9%; p = 0,032). Mô hình 1: RACHS-1 (OR = 2,45), suy tim (OR = 2,12), tuổi < 30 ngày (OR = 1,92), tăng áp phổi (OR = 1,88), cân nặng < 3 kg (OR = 1,78), SpO2 < 85% (OR = 1,65); AUC = 0,81. Mô hình 2 bổ sung biến chứng hậu phẫu (OR = 2,67), AUC = 0,86.

Kết luận: RACHS-1 và suy tim trước mổ là hai yếu tố liên quan mạnh nhất đến tử vong trong bệnh viện. Biến chứng hậu phẫu có thể nằm trên đường dẫn giữa tình trạng nặng trước mổ và tử vong, nhưng cần các nghiên cứu tiếp theo để làm rõ hơn mối liên quan này.

Tài liệu tham khảo
[1]
et al. Global, regional, and national burden of congenital heart disease, 1990–2017. Lancet Child Adolesc Health. 2020;4(3):185-200. Google Scholar
[2]
Khang Cao, Van Le, Thoi Ngo et al. Status of congenital heart disease surgery in Vietnam. Indian J Thorac Cardiovasc Surg. 2024. doi:10.1007/s12055-024-01872-w. Google Scholar
[3]
Kumar SR, Gaynor JW, Heuerman H et al. The Society of Thoracic Surgeons Congenital Heart Surgery Database: 2023 Update. Ann Thorac Surg. 2024;117(5):904-914. Google Scholar
[4]
Murala JSK, Karl TR, Pezzella AT. Pediatric cardiac surgery in low- and middle-income countries. Front Pediatr. 2019;7:363. Google Scholar
[5]
Korun O, Yurdakök O, Arslan A et al. The impact of COVID-19 pandemic on congenital heart surgery practice. J Card Surg. 2020;35(11):2908-2912. Google Scholar
[6]
KDIGO 2012 Clinical Practice Guideline for Acute Kidney Injury. Kidney Int Suppl. 2012;2(1):1-138. Google Scholar
[7]
Jenkins KJ, Gauvreau K, Newburger JW et al. Consensus-based method for risk adjustment for surgery for congenital heart disease. J Thorac Cardiovasc Surg. 2002;123(1):110-118. Google Scholar
[8]
Welke KF, Karamlou T, O'Brien SM et al. Contemporary relationship between hospital volume and outcomes in congenital heart surgery. Ann Thorac Surg. 2023;116(6):1233-1239. Google Scholar