Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

U QUÁI CHƯA TRƯỞNG THÀNH CÓ THÀNH PHẦN U TẾ BÀO MẦM (SEMINOMA) TẠI TÚI TINH Ở NGƯỜI BỆNH NAM GIỚI TRƯỞNG THÀNH: BÁO CÁO CA BỆNH

Phan Lê Nhật Long1,2, Nguyễn Tuấn Đạt1,2, Nguyễn Văn Phúc1,2, Nguyễn Văn Phú Thắng1,2, Lê Đức Phúc1,2, Phạm Đức Mạnh1,2
1 Department of Andrology, 108 Military Central Hospital
2 Khoa Nam học, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.5819
28 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

U quái (teratoma) là loại u tế bào mầm chứa các thành phần có nguồn gốc từ cả 3 lá phôi. U quái ác tính nguyên phát tại túi tinh là một dạng u ngoài tinh hoàn cực kỳ hiếm gặp, đặc biệt ở nam giới trẻ tuổi. Việc chẩn đoán chính xác và xác định giai đoạn bệnh đóng vai trò quyết định trong chiến lược điều trị đa mô thức và tiên lượng bệnh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nam giới 31 tuổi nhập viện với tiền sử 2 tháng đau vùng chậu, tiểu khó, cùng các rối loạn bài tiết nước tiểu và phân. Xét nghiệm cận lâm sàng ghi nhận dấu ấn sinh học tăng cao đáng kể: AFP 1440 ng/mL. Kết quả chụp CT ổ bụng cho hình ảnh một khối giảm tỷ trọng không đồng nhất, kích thước 83 × 72 mm tại hố chậu phải, tương ứng vị trí túi tinh phải, gây chèn ép bàng quang và trực tràng. Người bệnh đã phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u. Quan sát đại thể cho thấy khối u có vỏ bọc, kích thước 8 × 8 × 4 cm, mật độ chắc, bên trong có các khoang nang chứa dịch đục. Kết quả xét nghiệm mô bệnh học xác chẩn u quái chưa trưởng thành kèm thành phần seminoma. Do nồng độ AFP tiếp tục tăng sau mổ (> 1600 ng/mL), bệnh nhân được điều trị bổ trợ bằng phác đồ hóa trị BEP. Sau 2 chu kỳ, các triệu chứng lâm sàng đã thuyên giảm hoàn toàn và nồng độ AFP giảm mạnh xuống còn 159 ng/mL. Ca lâm sàng này cho thấy những thách thức trong chẩn đoán do sai số trong thu thập mẫu khi sinh thiết kim đối với các khối u quái vùng chậu có cấu trúc không đồng nhất. Chỉ định điều trị dựa trên việc kết hợp đánh giá các dấu ấn khối u cùng với phẫu thuật triệt căn và hóa trị bổ trợ là yếu tố then chốt trong quản lý các loại u tế bào mầm ngoài tinh hoàn ác tính hiếm gặp này.

Tài liệu tham khảo
[1]
Penny S.M. Sacrococcygeal teratoma: a literature review. Radiol Technol, 2012, 84 (1): 11-7. Google Scholar
[2]
Alimehmeti M et al. Cystic benign teratoma of the neck in adult. World J Clin Cases, 2013, 1 (6): 202-4. Google Scholar
[3]
Bhatti A et al. Mature (benign) cystic retroperitoneal teratoma involving the left adrenal gland in a 22-year-old male: a case report and literature review. Case Rep Oncol Med, 2013: 610280. Google Scholar
[4]
Win T.T et al. Congenital mature cystic teratoma of the lateral neck presenting as cystic hygroma: a rare case report with literature review. Turk Patoloji Derg, 2014, 30 (3): 220-4. Google Scholar
[5]
Bristow M.S et al. Answer to case of the month #152 retroperitoneal teratoma. Can Assoc Radiol J, 2009, 60 (3): 153-5. Google Scholar
[6]
Vera V, Safriadi F. Mature (benign) cystic retrovesical teratoma in a 49-year-old male: a case report and literature review. American Journal of Medical Case Reports, 2016, 4 (5): 153-157. Google Scholar
[7]
Altman R.P, Randolph J.G, Lilly J.R. Sacrococcygeal teratoma: American Academy of Pediatrics Surgical Section Survey-1973. J Pediatr Surg, 1974, 9 (3): 389-98. Google Scholar
[8]
Campi R et al. Robot-assisted laparoscopic vesiculectomy for large seminal vesicle cystadenoma: a case report and review of the literature. Clin Genitourin Cancer, 2015, 13 (5): e369-73. Google Scholar
[9]
Yin, T. and Y. Jiang, A 5-year follow-up of primary seminal vesicle adenocarcinoma: A case report. Medicine (Baltimore), 2018. 97 (41): p. e12600. Google Scholar
[10]
Kumar A et al. Mature cystic teratoma of the adult male pelvis: a rare case report and review of literature. The Journal of Medical Sciences, 2023, 9: 1-4. Google Scholar
[11]
Babar M et al. Diagnosis and treatment of a mixed epithelial stromal tumor of the seminal vesicle: a systematic review. Urology, 2022, 167: 13-18. Google Scholar
[12]
Sheinfeld J, Bajorin D. Management of the postchemotherapy residual mass. Urol Clin North Am, 1993, 20 (1): 133-43. Google Scholar