Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

THỰC TRẠNG SẴN SÀNG ĐỒNG Ý HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI KHI ĐANG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN KHÁM CHỮA BỆNH TẠI CÁC TRẠM Y TẾ QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Đặng Thanh Phương1,2, Ngô Thị Hồng Lĩnh3,4, Ngô Thị Tuyết3,4, Hoàng Thạch Thảo3,4, Trần Anh Quốc3,4
1 Thai Nguyen University's branch campus in Dien Bien province
2 Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Điện Biên
3 Danang University of Medical Technology and Pharmacy
4 Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5716
23 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ sẵn sàng đồng ý hiến mô, bộ phận cơ thể người khi đang sống và khảo sát một số yếu tố liên quan ở người dân đến khám chữa bệnh tại các trạm y tế quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang từ 7/2024 đến 6/2025 trên 570 người từ 18 tuổi trở lên tại 6 trạm y tế. Số liệu thu thập bằng bộ câu hỏi KAP cấu trúc; kiến thức gồm 13 câu, thái độ gồm 9 câu, phân loại đạt khi đạt từ 75% tổng điểm. Biến phụ thuộc là sự sẵn sàng đồng ý hiến khi đang sống (có/không). Phân tích số liệu bằng thống kê mô tả, kiểm định Chi-bình phương, hồi quy logistic đơn biến và hồi quy logistic đa biến với sai số chuẩn robust để ước tính OR, aOR và KTC 95%. Kết quả: Tỷ lệ sẵn sàng hiến mô, bộ phận cơ thể người khi đang sống là 31,1%. Các lý do do dự thường gặp là lo ngại sức khỏe không bảo đảm (26,1%), ảnh hưởng đến gia đình (20,5%), người thân không đồng ý (17,8%), lo lắng sợ sệt (15,5%) và sợ dư luận xã hội (14,2%). Trong phân tích đa biến, các nhóm tuổi 35–44, 45–60 và >60 có odds sẵn sàng hiến thấp hơn so với nhóm 18–24; trong khi người có tôn giáo và nhóm có thái độ đạt có odds sẵn sàng hiến cao hơn. Kết luận: Tỷ lệ sẵn sàng hiến mô, bộ phận cơ thể người khi đang sống còn thấp. Sau hiệu chỉnh đa biến, tuổi, tôn giáo và thái độ là các yếu tố liên quan độc lập với sự sẵn sàng hiến. Cần tăng cường truyền thông tại tuyến y tế cơ sở, nhấn mạnh tính an toàn, ý nghĩa nhân văn và thúc đẩy trao đổi trong gia đình.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. Transplantation. Geneva: WHO; 2024. Available from: https://www.who.int/health-topics/transplantation. Google Scholar
[2]
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Hà Nội; 2006. Google Scholar
[3]
Hai TB, Eastlund T, Chien LA, Duc PTH, Giang TH, Hoa NTN, et al. Willingness to donate organs and tissues in Vietnam. J Transpl Coord. 1999;9(1):57-63. doi:10.1177/090591999900900109. Google Scholar
[4]
Pham H, Spigner C. Knowledge and opinions about organ donation and transplantation among Vietnamese Americans in Seattle, Washington: a pilot study. Clin Transplant. 2004;18(6):707-715. doi:10.1111/j.1399-0012.2004.00284.x. Google Scholar
[5]
Sinh TN, Mackie FE, Ninh LH, Thuy HTD. Attitude towards deceased donation in Ho Chi Minh City, Vietnam. Nephrology (Carlton). 2019;24(10):1077-1080. doi:10.1111/nep.13581. Google Scholar
[6]
Irving MJ, Tong A, Jan S, Cass A, Rose J, Chadban S, et al. Factors that influence the decision to be an organ donor: a systematic review of the qualitative literature. Nephrol Dial Transplant. 2012;27(6):2526-2533. doi:10.1093/ndt/gfr683. Google Scholar
[7]
Phan Hồng Vân. Nhận thức, thái độ và sự chấp nhận của cộng đồng đối với việc hiến ghép mô, bộ phận cơ thể người. Luận án tiến sĩ Y tế công cộng. 2012. Google Scholar