Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

KIẾN THỨC VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CỦA NGƯỜI BỆNH NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH NĂM 2026

Huỳnh Trung Sơn1,2, Phan Chung Thùy Lynh1,2, Nguyễn Phan Trí Việt3,4, Nguyễn Quang Định1,2, Nguyễn Trần Ái Uyên1,2, Lê Bình Phước1,2, Võ Nữ Mỹ Nương1,2, Phạm Thị Thu Phương1,2, Lê Thanh Toàn1,2,5,6, Phạm Lê An1,2
1 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
2 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3 Faculty of Medicine, Hong Bang International University
4 Khoa Y – Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
5 Le Van Thinh Hospital
6 Bệnh viện Lê Văn Thịnh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5706
56 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định điểm kiến thức về đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh năm 2026 bằng thang đo DKQ-R và mô tả tỷ lệ trả lời đúng theo từng câu hỏi và nhóm chủ đề.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 106 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám bác sĩ gia đình Bệnh viện Lê Văn Thịnh, TP. Hồ Chí Minh trong tháng 01/2026. Kiến thức về ĐTĐ được đánh giá bằng thang đo DKQ-R (Diabetes Knowledge Questionnaire – Revised) gồm 22 câu hỏi (định dạng Đúng/Sai/Không biết, tổng điểm 0–22). Tỷ lệ trả lời đúng theo từng câu và theo nhóm chủ đề được phân tích dựa trên phân nhóm của tác giả gốc.

Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 60,7 ± 11,2; nữ giới chiếm 61,3%. Điểm kiến thức DKQ-R trung bình là 12,7 ± 3,3 (tương đương 57,7% tổng điểm), với độ tin cậy nội bộ của thang đo ở mức chấp nhận được (KR-20 = 0,664). Các nhóm kiến thức có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất là triệu chứng đường huyết (70,3%) và biến chứng (69,1%). Ngược lại, tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất ghi nhận ở nhóm chăm sóc bàn chân/mắt/răng (18,4%), vắc-xin (34,9%) và dinh dưỡng (50,7%).

Kết luận: Mức kiến thức về ĐTĐ típ 2 của người bệnh chưa cao, còn tồn tại những khoảng trống ở một số lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là chăm sóc bàn chân, mắt, răng miệng và vắc-xin.

Tài liệu tham khảo
[1]
Magliano DJ, Boyko EJ, editors. IDF Diabetes Atlas. 10th ed. Brussels: International Diabetes Federation; 2021. Google Scholar
[2]
Phan DH, Vu TT, Nguyen HT, Tran TNA, Nguyen HH, Pham HN, et al. Assessment of the risk factors associated with type 2 diabetes and prediabetes mellitus: a national survey in Vietnam. Medicine (Baltimore). 2022;101(41):e31149. doi: 10.1097/MD.0000000000031149 Google Scholar
[3]
Harding JL, Pavkov ME, Magliano DJ, Shaw JE, Gregg EW. Global trends in diabetes complications: a review of current evidence. Diabetologia. 2019;62(1):3–16. doi: 10.1007/s00125-018-4711-2 Google Scholar
[4]
Davis J, Fischl AH, Beck J, Browning K, Carter A, Condon JE, et al. 2022 National standards for diabetes self-management education and support. Sci Diabetes Self Manag Care. 2022;48(1):44–59. doi: 10.1177/26350106211072203 Google Scholar
[5]
Marciano L, Camerini AL, Schulz PJ. The role of health literacy in diabetes knowledge, self-care, and glycemic control: a meta-analysis. J Gen Intern Med. 2019;34(6):1007–1017. doi: 10.1007/s11606-019-04832-y Google Scholar
[6]
Brown SA, Becker BJ, Garcia AA, Brown A, Ramirez G. Model-driven meta-analyses for informing health care: a diabetes meta-analysis as an exemplar. West J Nurs Res. 2015;37(4):517–535. doi: 10.1177/0193945914524853 Google Scholar
[7]
Villagomez ET. Health beliefs, knowledge, and metabolic control in diabetic Mexican American adults [Ph.D. dissertation]. Houston, TX: University of Texas Health Science Center at Houston; 1989. Google Scholar
[8]
Garcia AA, Villagomez ET, Brown SA, Kouzekanani K, Hanis CL. The Starr County Diabetes Education Study: development of the Spanish-language diabetes knowledge questionnaire. Diabetes Care. 2001;24(1):16–21. doi: 10.2337/diacare.24.1.16 Google Scholar
[9]
Zuniga JA, Huang YC, Bang SH, Cuevas H, Hutson T, Heitkemper EM, et al. Revision and psychometric evaluation of the Diabetes Knowledge Questionnaire for people with type 2 diabetes. Diabetes Spectr. 2023;36(4):345–353. doi: 10.2337/ds22-0079 Google Scholar