Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

KẾT QUẢ TẠO HÌNH VẠT ĐẢO MŨI MÁ CUỐNG TRÊN TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DA MŨI: BÁO CÁO 20 TRƯỜNG HỢP

Đỗ Nguyễn Tuấn Khanh1,2, Nguyễn Việt Dũng1,2
1 Ho Chi Minh City Oncology Hospital
2 Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5673
20 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng và xác định hiệu quả thẩm mỹ, chức năng dài hạn của vạt đảo mũi má cuống trên trong tạo hình mũi sau phẫu thuật ung thư da.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 20 bệnh nhân ung thư da mũi được phẫu thuật cắt rộng và tạo hình tức thì tại Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM từ tháng 06/2022 đến tháng 10/2025.

Kết quả: Tuổi trung bình 66 ± 11,4 tuổi, nữ chiếm 80%. Tỉ lệ ung thư biểu mô tế bào đáy là 95% và tế bào gai 5%. Giai đoạn T2 chiếm đa số (75%). Diện tích vạt trung bình 18,7 ± 10,1cm2. Tỉ lệ vạt sống 100%. Biến chứng sớm (sung huyết, hoại tử bề mặt) chiếm 15% và tự phục hồi. Không ghi nhận trường hợp nào tái phát hoặc di căn hạch. Kết quả thẩm mỹ rất tốt và tốt đạt 100%.

Kết luận: Vạt đảo mũi má cuống trên là một lựa chọn khả thi, kết quả ban đầu tốt trong loạt ca nghiên cứu. Vạt có nguồn máu nuôi phong phú, góc xoay vạt lớn, độ vươn xa đến mọi vị trí của mũi, cuống vạt được đặt dưới đường hầm da giúp phẫu thuật 1 thì, giảm chi phí cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo
[1]
Trần Văn Thiệp. Phẫu thuật ung thư da mũi giai đoạn sớm. Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 2010:200-3. Google Scholar
[2]
Baltrušaitytė K, Zacharevskij E, Pilipaitytė L, Braziulis K, Petkevičius A. Assessment of Standard Surgical Excision Efficacy and Analysis of Recurrence-Associated Factors in 343 Cases of Nasal Basal Cell Carcinoma: A Single-Center Retrospective Study. Healthcare (Basel). 2024;12(5). DOI: 10.3390/healthcare12050513 Google Scholar
[3]
Giebfried JW, Urken ML, Lawson W, Biller HF. Reconstruction of nasal defects with a nasolabial island flap. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 1987;113(3):295-8. DOI: 10.1001/archotol.1987.01860030071011 Google Scholar
[4]
Karsidag S, Ozcan A, Sumer O, Ugurlu K. Single-stage ala nasi reconstruction: lateral nasal artery perforator flap. J Craniofac Surg. 2010;21(6):1887-9. DOI: 10.1097/SCS.0b013e3181f4af27 Google Scholar
[5]
Sohn WI CJ, Seo BF, Jung SN. Reconstruction of nasal ala with nasolabial perforator flap after cancer removal. Head Neck Oncol. 2012. Google Scholar
[6]
Tatar S, Yontar Y, Ozmen S. Superiorly based nasolabial island flap for reconstruction of the lateral lower eyelid. Turk J Med Sci. 2017;47(6):1673-80. DOI: 10.3906/sag-1701-160 Google Scholar
[7]
Yoon TH, Yun IS, Rha DK, Lee WJ. Reconstruction of various perinasal defects using facial artery perforator-based nasolabial island flaps. Arch Plast Surg. 2013;40(6):754-60. DOI: 10.5999/aps.2013.40.6.754 Google Scholar
[8]
Lee DW, Ryu HR, Choi HJ, Kim JH. One-stage reconstruction of full-thickness alar defects with a folded nasolabial island flap. Arch Craniofac Surg. 2021;22(6):296-302. DOI: 10.7181/acfs.2021.00339 Google Scholar
[9]
Prakash S, Panda R, Kumar V, Saha SS, Choudhary L, Pandey A, et al. Nasolabial Perforator Flap for One-stage Reconstruction of Nasal Defects. J Cutan Aesthet Surg. 2017;10(1):22-7. DOI: 10.4103/0974-2077.204576 Google Scholar
[10]
Kerem H, Bali U, Sonmez E, Manavbasi YI, Yoleri L. The cranially based contralateral nasolabial flap for reconstruction of paranasal and periorbital surgical defects. J Plast Reconstr Aesthet Surg. 2014;67(5):655-61. DOI: 10.1016/j.bjps.2014.01.027 Google Scholar