Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, phân tích phổ căn nguyên và xác định yếu tố tiên lượng độc lập đối với kết cục xuất viện ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.
Phương pháp nghiên cứu: Thuần tập hồi cứu trên 176 bệnh nhân trưởng thành chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2025. Gánh nặng huyết khối định lượng bằng thang điểm VSSS; kết cục xuất viện bằng modified Rankin Scale (mRS). Hồi quy logistic đa biến xác định yếu tố dự báo dự hậu xấu (mRS > 2).
Kết quả: Tuổi trung bình 44,6 ± 14,6; nữ 75%; khởi phát bán cấp 88,1%. Tỷ lệ vô căn thực sự sau tầm soát chuyên sâu chỉ còn 23,3%. Thiếu hụt các chất ức chế đông máu tự nhiên (protein C, S, antithrombin III) chiếm 58%; thuốc tránh thai đường uống 39,4% ở nữ; hiện tượng cộng gộp nguy cơ (≥ 2 yếu tố) ở 36,4%. Dù xuất huyết nhu mô 50% lúc nhập viện, kháng đông sớm (Heparin, 88,1%) vẫn giúp 69,9% đạt mRS 0-2 và tử vong nội trú chỉ 1,7%. Rối loạn ý thức lúc nhập viện là yếu tố mạnh nhất (OR = 8,33; 95% CI: 3,43-20,26; p < 0,001), cùng xuất huyết nhu mô (OR = 3,79), yếu liệt chi (OR = 2,47), tuổi (OR = 1,06) và bạch cầu tăng (OR = 1,14).
Kết luận: Huyết khối tĩnh mạch não tại Việt Nam đang chuyển dịch sang các yếu tố nguy cơ hiện đại theo cơ chế cú hích kép. Kháng đông sớm an toàn kể cả khi có xuất huyết. Rối loạn ý thức là dấu hiệu then chốt phân tầng nguy cơ rất cao của tổn thương hệ tĩnh mạch sâu.