Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THỦNG ĐẠI TRÀNG DO BỆNH LÝ LÀNH TÍNH TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Đặng Chí Tùng1,2, Đặng Chí Tùng1,2, Trần Phùng Dũng Tiến1,2, Nguyễn Phát Đạt1,2
1 Department of Gastrointestinal Surgery – Cho Ray Hospital
2 Khoa Ngoại Tiêu hóa – Bệnh viện Chợ Rẫy
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5657
34 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Thủng đại tràng do bệnh lý lành tính là cấp cứu ngoại khoa nặng, dẫn đến nhiễm trùng ổ bụng nặng và suy cơ quan. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp phẫu thuật và kết quả sớm sau mổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, gồm 175 bệnh nhân thủng đại tràng do nguyên nhân lành tính được phẫu thuật cấp cứu trong thời gian 01/2025–12/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, gồm đặc điểm bệnh nhân, nguyên nhân, vị trí thủng, đường tiếp cận, phương pháp phẫu thuật và kết quả sớm sau mổ.

Kết quả: Tuổi trung bình là 63,8 (16–92), nam chiếm 61,1%. Thời gian đau bụng trước nhập viện trung bình 2,34 ngày; 29 bệnh nhân (16,6%) có sốc khi nhập viện. Nguyên nhân thường gặp nhất là thủng túi thừa (79,4%), kế đến dị vật (12,0%) và nhóm khác/ không phân định chi tiết (8,6%). Vị trí thủng hay gặp nhất là đại tràng sigma (56,0%). Mổ mở chiếm 80,0%; các phương pháp có hậu môn nhân tạo được sử dụng ở đa số trường hợp. Biến chứng thường gặp gồm suy thận cấp (24,6%), viêm phổi (18,9%) và suy đa cơ quan (13,7%). Tử vong sau mổ ghi nhận 15 trường hợp (8,6%).

Kết luận: Thủng đại tràng do bệnh lý lành tính trong loạt ca này thường gặp ở người lớn tuổi, có bệnh đồng mắc và liên quan tỉ lệ biến chứng, tử vong đáng kể. Kết quả nhấn mạnh vai trò của chẩn đoán sớm, hồi sức tích cực và lựa chọn phẫu thuật phù hợp với tình trạng sinh lý của người bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Sartelli M, Weber DG, Kluger Y, et al. 2020 update of the WSES guidelines for the management of acute colonic diverticulitis in the emergency setting. World J Emerg Surg. 2020;15:32. doi:10.1186/s13017-020-00313-4. Google Scholar
[2]
Lahes S, Alkhanji N, Snopok I, Abdulla M, Wagenpfeil G, Glanemann M. Clinical outcomes after surgery for benign stomach versus colorectal perforations. BMC Surgery. 2025;25:585. doi:10.1186/s12893-025-03338-1. Google Scholar
[3]
Lee HJ, Kim KH, Lee SC, Song S. Prognostic Factors of Patients with Stercoral Perforation of the Colon. Korean J Gastroenterol. 2020;76(4):191-198. doi:10.4166/kjg.2020.76.4.191. Google Scholar
[4]
Bridoux V, Regimbeau JM, Ouaissi M, et al. Hartmann’s procedure or primary anastomosis for generalized peritonitis due to perforated diverticulitis: a prospective multicenter randomized trial (DIVERTI). J Am Coll Surg. 2017;225(6):798-805. doi:10.1016/j.jamcollsurg.2017.09.004 Google Scholar
[5]
Lambrichts DPV, Vennix S, Musters GD, et al. Hartmann's procedure versus sigmoidectomy with primary anastomosis for perforated diverticulitis with purulent or faecal peritonitis (LADIES): a multicentre, parallel-group, randomised, open-label, superiority trial. Lancet Gastroenterol Hepatol. 2019;4(8):599-610. doi:10.1016/S2468-1253(19)30174-8. Google Scholar
[6]
Oberkofler CE, Rickenbacher A, Raptis DA, et al. A multicenter randomized clinical trial of primary anastomosis or Hartmann's procedure for perforated left colonic diverticulitis with peritonitis. Br J Surg. 2012;99(5):651-657. DOI: 10.1097/SLA.0b013e31827324ba Google Scholar