Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ7-Trường ĐH Y Dược Hải Phòng 06/07/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN THÂN XƯƠNG CHÀY BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG ĐINH NỘI TỦY CÓ CHỐT DƯỚI HƯỚNG DẪN MÀN HÌNH TĂNG SÁNG

Nguyễn Thanh Long1,2, Phạm Ngọc Tuấn3,4, Trịnh Đình Thanh5,6, Nguyễn Minh Tuấn7,8
1 Ky Anh Town General Hospital, Ha Tinh Province
2 Bệnh viện Đa Khoa thị xã Kỳ Anh
3 Hoa Binh General Hospital, Phu Tho Province
4 Bệnh viện đa khoa Hoà Bình-Phú Thọ
5 Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
6 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
7 Ha Tinh Provincial General Hospital, Ha Tinh Province
8 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD7.5625
15 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương chày bằng phương pháp đóng đinh nội tủy có chốt dưới hướng dẫn màn hình tăng sáng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 80 bệnh nhân gãy kín thân xương chày được điều trị bằng đinh nội tủy có chốt dưới hướng dẫn màn hình tăng sáng. Các chỉ tiêu gồm đặc điểm dịch tễ, tổn thương, đặc điểm phẫu thuật, thời gian và kết quả liền xương, kết quả chức năng theo tiêu chuẩn Johner–Wruhs và biến chứng sau mổ.

Kết quả: Bệnh nhân chủ yếu trên 50 tuổi (47,5%), nam chiếm 56,3%. Nguyên nhân chính là tai nạn lao động (42,5%) và tai nạn giao thông (33,8%). Gãy 1/3 giữa xương chày chiếm 42,5%, gãy nhiều mảnh (≥3 mảnh) chiếm 65,0%. Thời gian liền xương trung bình 22 ± 7,3 tuần. Tỷ lệ liền xương tốt đạt 77,5%, không ghi nhận không liền xương. Kết quả chức năng tốt và rất tốt đạt 96,3%. Đa số bệnh nhân không có biến chứng sau mổ (67,5%).

Kết luận: Đóng đinh nội tủy có chốt dưới hướng dẫn màn hình tăng sáng là phương pháp an toàn, hiệu quả trong điều trị gãy kín thân xương chày.

Tài liệu tham khảo
[1]
Court-Brown CM, Caesar B. Epidemiology of adult fractures. 2006;37(8):691-697. DOI: 10.1016/j.injury.2006.04.130 Google Scholar
[2]
Bhandari M, Guyatt G, Tornetta P. Randomized trial of reamed and unreamed intramedullary nailing of tibial shaft fractures. J Bone Joint Surg Am. 2008;90:2567-2578. DOI: 10.2106/JBJS.G.01694 Google Scholar
[3]
Court-Brown CM, McQueen MM, Tornetta P. Trauma.: Rockwood and Green’s Fractures in Adults. Lippincott Williams & Wilkins; 2015. Google Scholar
[4]
Busse JW, Bhandari M, Guyatt GH. Reamed versus unreamed intramedullary nailing for tibial fractures. J Orthop Trauma. 2008;22(7):489-493. DOI:10.1097/BOT.0b013e31817e47c5 Google Scholar
[5]
Wiss DA, Stetson WB. Unstable fractures of the tibia treated with intramedullary nailing. Clin Orthop Relat Res. 1995;315:56-63. Google Scholar
[6]
Busse JW, Morton E, Lacchetti C. Current management of tibial shaft fractures. Injury. 2017;48:S10-S13. DOI: 10.1016/S0020-1383(17)30478-1 Google Scholar
[7]
Johner R, Wruhs O. Classification of tibial shaft fractures and functional outcome. Clin Orthop Relat Res. 1983;178:7-25. Google Scholar
[8]
Larsen P, Elsoe R, Hansen SH, et al. Incidence and epidemiology of tibial shaft fractures. Injury. 2015;46(4):746–750. DOI: 10.1016/j.injury.2014.12.027 Google Scholar
[9]
Larsen P, Elsoe R, Hansen SH, et al. Intramedullary nailing of tibial shaft fractures: results from a Danish nationwide registry. Acta Orthopaedica. 2015;86(6):718–724. Google Scholar
[10]
DOI: 10.3109/17453674.2015.1073797 Google Scholar
[11]
Hadeed MM, Ricci WM, Obremskey WT. Current concepts review: intramedullary nailing of tibial shaft fractures. Journal of the American Academy of Orthopaedic Surgeons. 2021;29(9):e435–e445. DOI: 10.5435/JAAOS-D-20-00355 Google Scholar