Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ7-Trường ĐH Y Dược Hải Phòng 06/07/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI QUA NIỆU ĐẠO ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH SƠN LA

Nguyễn Văn Trọng1,2, Phạm Thị Thu Mùi3,4, Vũ Thị Hồng5,6, Đỗ Minh Tùng7,8, Nguyễn Quang Tuyền7,9
1 Department of Urology and Andrology, Son La Provincial General Hospital
2 Khoa Ngoại tiết niệu- nam học - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La.
3 Nam Dinh University of Nursing
4 Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
5 Son La Medical College
6 Trường Cao đẳng Y Sơn La
7 Faculty of Medicine, Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
8 Khoa Y – Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
9 Khoa Y – Trường Đại học Y Dược Hải Phòn
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD7.5598
14 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt đốt tuyến tiền liệt qua niệu đạo (TURP) bằng dao đơn cực điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 108 bệnh nhân được chẩn đoán tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, điều trị bằng TURP tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La từ 01/2024 đến 10/2025. 

Kết quả: Tuổi trung bình 71,99 ± 9,79, cao nhất 95 tuổi, thấp nhất 56 tuổi. Bảng điểm IPSS trước phẫu thuật: 25,26 ± 6,26; Bảng điểm chất lượng cuộc sống (QoL) trước phẫu thuật: 4,92 ±1,015; khối lượng TTL trước mổ là 50,50 ± 17,23. Biến chứng sau rút thông tiểu có 14,8% đái buốt; 10,2% đái máu; 7,4% bí đái và 5,6% đái són; Điểm IPSS cải thiện trung bình sau mổ, 3 tháng lần lượt là 6,25 ± 1,98; 3,69 ± 1,73; QoL cải thiện trung bình sau mổ, 3 tháng lần lượt là: 1,74 ± 0,81; 0,89 ± 0,48; Khối lượng TTL trung bình sau mổ 18,89 ± 6,64, 3 tháng là 17,67 ± 6,24; Rất tốt 86,4%; Tốt 9,3%; Đạt 4,3%; Kém: 0%.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị TSLTTTL là phương pháp an toàn, hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống của BN.

Tài liệu tham khảo
[1]
Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam (2019). Hướng dẫn xử trí tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt. Nhà xuất bản Y học. Google Scholar
[2]
Ahmad Mushtaq, et al. (2016). Comparison Of Bipolar And Monopolar Cautry Use In Turp For Treatment Of Enlarged Prostate. J Ayub Med Coll Abbottabad, 28(4): p. 758-761. Google Scholar
[3]
Chen Qi, et al. (2010). Bipolar transurethral resection in saline vs traditional monopolar resection of the prostate: results of a randomized trial with a 2-year follow-up. BJU Int, 106(9): p. 1339-43. Google Scholar
[4]
Robert Grégoire, et al. (2012). Transurethral plasma vaporization of the prostate: 3-month functional outcome and complications. BJU Int, 110(4): p. 555-60. Google Scholar
[5]
The 5th International Conference on Biological Physics, ICBP 2004 (2004). Gothenburg University and Chalmers University of Technology, Gothenburg, Sweden. Google Scholar
[6]
John M. Fitzpatrick (2012). Minimally Invasive and Endoscopic Management of Benign Prostatic Hyperplasia. Campell Walsh Urology 10th Editor: pp.2654-2693, 2012. Google Scholar
[7]
Gratzke Christian, et al. (2015) EAU Guidelines on the Assessment of Non-neurogenic Male Lower Urinary Tract Symptoms including Benign Prostatic Obstruction. Eur Urol, 67(6): p. 1099-1109. Google Scholar