Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ7-Trường ĐH Y Dược Hải Phòng 06/07/2026

HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU VÀ TÁC DỤNG PHỤ THEO THỜI GIAN CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG TRUYỀN LIÊN TỤC TRONG CHUYỂN DẠ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

Đỗ Thị Lan Anh1,2, Nguyễn Quang Lợi3,4, Phạm Thị Thu Hương2,5, Nguyễn Thị Thu Hương2,5, Vũ Văn Quang2,5
1 Nursing faculty, Hai Phong university of Medicine and Pharmacy
2 Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
3 Anesthesia and Resuscitation department, Hai Phong university of Medicine and Pharmacy.
4 Bộ môn Gây mê hồi sức, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
5 Nursing faculty, Hai Phong university of Medicine and Pharmacy.
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD7.5591
26 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau và tác dụng phụ theo thời gian của phương pháp gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) truyền liên tục trong chuyển dạ.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 115 sản phụ đẻ đường âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2026. Sản phụ được duy trì giảm đau bằng bơm tiêm điện liên tục hỗn hợp dung dịch Levobupivacaine 0,1% và Fentanyl 2mcg/ml. Điểm đau VAS được đánh giá tại 4 thời điểm gồm trước gây tê, sau gây tê 30 phút, lúc sổ thai và lúc khâu tầng sinh môn (TSM); tác dụng phụ được theo dõi trong đẻ và 48 giờ sau đẻ.

Kết quả: Về hiệu quả giảm đau, điểm VAS trung bình giảm mạnh từ 8,2 điểm trước GTNMC xuống 3,4 điểm sau 30 phút gây tê; lúc sổ thai, điểm VAS tăng lên 6,9 điểm do áp lực cơ học vùng chậu, rồi giảm còn 2,5 điểm lúc khâu TSM. Về tác dụng phụ, trong chuyển dạ, các triệu chứng thường gặp nhất là lạnh run (32,2%), tê chân (22,6%), đau lưng (20%) và buồn nôn (18,2%). Sau 48 giờ, các triệu chứng này biến mất hoặc giảm đáng kể, trừ đau lưng còn 9,5% và không có biến chứng nghiêm trọng.

Kết luận: Phương pháp GTNMC truyền liên tục trong chuyển dạ có hiệu quả giảm đau rõ rệt và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng trong thời gian theo dõi..

Tài liệu tham khảo
[1]
Bonarska M, Adasik D, Szymczyk S, Łocik G, Stanirowski P. A Systematic Review of Contemporary and Emerging Analgesia Techniques for Natural Labor–Patient-Centered Approaches and Technological Advances. JCM. 2025;14(11):3977. doi:10.3390/jcm14113977 Google Scholar
[2]
Đình Tuyến N, Tiến Dũng N. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp gây tê ngoài màng cứng để giảm đau chuyển dạ cho sản phụ sinh thường tại Bệnh viện Sản-Nhi tỉnh Quảng Ngãi. VMJ. 2021;498(2). doi:10.51298/vmj.v498i2.206 Google Scholar
[3]
Phung QT, Cao NT, Truong QV. Research epidural analgesia to pain relief on labor progress. JMP. Published online June 2012:31-41. doi:10.34071/jmp.2012.3.6 Google Scholar
[4]
Yu R, Deng X, Hu N, Chen DX. Comparative effectiveness of diverse strategies for the prevention or treatment of epidural-related maternal fever: a systematic review and network meta-analysis of randomized controlled trials. American Journal of Obstetrics and Gynecology. 2025;233(6):581-590.e30. doi:10.1016/j.ajog.2025.07.029 Google Scholar
[5]
Halliday L, Nelson SM, Kearns RJ. Epidural analgesia in labor: A narrative review. Intl J Gynecology & Obste. 2022;159(2):356-364. doi:10.1002/ijgo.14175 Google Scholar
[6]
Hùng NC, Lam NĐ, Hoàng NC, Lợi ĐV. So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ của gây tê ngoài màng cứng giữa truyền thuốc tê liên tục với tiêm ngắt quãng tự động. YHCĐ. 2026;67(1). doi:10.52163/yhc.v67i1.4112 Google Scholar
[7]
Anim-Somuah M, Smyth RM, Cyna AM, Cuthbert A. Epidural versus non-epidural or no analgesia for pain management in labour. Cochrane Pregnancy and Childbirth Group, ed. Cochrane Database of Systematic Reviews. 2018;2018(5). doi:10.1002/14651858.CD000331.pub4 Google Scholar
[8]
Cambic CR, Wong CA. Labour analgesia and obstetric outcomes. British Journal of Anaesthesia. 2010;105:i50-i60. doi:10.1093/bja/aeq311 Google Scholar
[9]
Macarthur, Alison J. MD, FRCPC; Macarthur, Colin MBChB, PhD; Weeks, Sally K. MBBS, FRCA. Is Epidural Anesthesia in Labor Associated with Chronic Low Back Pain? A Prospective Cohort Study. Anesthesia & Analgesia 85(5):p 1066-1070 Google Scholar