Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ7-Trường ĐH Y Dược Hải Phòng 06/07/2026

TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG GẦY CÒM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ 6–59 THÁNG TUỔI MẮC VIÊM PHỔI TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2025 - 2026

Nguyễn Doãn Phong1,2, Đặng Việt Linh3,4, Đặng Văn Chức1,2
1 Hai Phong University of Medicine and Pharmacy, Hai Phong, Vietnam
2 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
3 Hai Phong Children's Hospital, Hai Phong, Viet Nam
4 Bệnh viện Nhi Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD7.5582
13 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng gầy còm thường gặp ở trẻ viêm phổi và có thể làm nặng diễn biến bệnh.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng gầy còm ở trẻ 6–59 tháng tuổi mắc viêm phổi.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 590 trẻ 6–59 tháng tuổi mắc viêm phổi tại Bệnh viện Nhi Hải Phòng từ 01/03/2025 đến 28/02/2026. Suy dinh dưỡng gầy còm được xác định theo tiêu chuẩn WHO với Z-score cân nặng/chiều cao < −2SD. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập.
Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng gầy còm là 10,3%. Các yếu tố liên quan độc lập với suy dinh dưỡng gầy còm gồm CRP ≥10 mg/L, thiếu máu, tiền sử COVID-19, cai sữa sớm và học vấn mẹ ≤ THPT.
Kết luận: Suy dinh dưỡng gầy còm còn thường gặp ở trẻ 6–59 tháng tuổi mắc viêm phổi. Cần lồng ghép đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm trong quá trình điều trị trẻ viêm phổi.

Tài liệu tham khảo
[1]
Abdulahi A, Shab-Bidar S, Rezaei S, Djafarian K. Nutritional Status of Under Five Children in Ethiopia: A Systematic Review and Meta-Analysis. Ethiop J Health Sci. 2017;27:175–88. doi:10.4314/ejhs.v27i2.10 Google Scholar
[2]
Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, Caulfield LE, de Onis M, Ezzati M, et al. Maternal and child undernutrition: global and regional exposures and health consequences. The Lancet. 2008;371:243–60. doi:10.1016/S0140-6736(07)61690-0 Google Scholar
[3]
Bộ Y tế. Hướng dẫn xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em (IMCI). Hà Nội: Bộ Y tế; 2022. Google Scholar
[4]
Viện Dinh dưỡng. Bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo WHO 2006. Hà Nội: Viện Dinh dưỡng; 2013. Google Scholar
[5]
Rahman MS, Rahman MA, Maniruzzaman M, Howlader MH. Prevalence of undernutrition in Bangladeshi children. J Biosoc Sci. 2020;52:596–609. doi:10.1017/S0021932019000683 Google Scholar
[6]
Đoàn Ngọc Thanh. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi tại Quảng Ninh. [Hải Phòng]: Trường Đại học Y Dược Hải Phòng; 2023. Google Scholar
[7]
Wan Q, Zhang Q, Wan R. Status of malnutrition and its influencing factors in children under 5 years old in Yunnan Province from 2016 to 2017. Wei Sheng Yan Jiu. 2022;51:51–5. doi:10.19813/j.cnki.weishengyanjiu.2022.01.009 Google Scholar
[8]
Dires S, Belay MM. The Magnitude of Wasting and Associated Factors among Children Aged 2-5 Years in Southern Ethiopia: A Cross-Sectional Study. BioMed Res Int. 2021;2021:6645996–6645996. doi:10.1155/2021/6645996 Google Scholar
[9]
Wang J, Wang H, Chang S, Zhao L, Fu P, Yu W, et al. The Influence of Malnutrition and Micronutrient Status on Anemic Risk in Children under 3 Years Old in Poor Areas in China. PLoS One. 2015;10:e0140840–e0140840. doi:10.1371/journal.pone.0140840 Google Scholar
[10]
Sunday FX, Ilinde DN, Rudatinya PI, Kwizera P, Kanimba P, Rutayisire R, et al. Factors affecting nutritional status among children aged below five years in Rwanda’s Western and Southern Provinces. BMC Public Health. 2024;24:2053. doi:10.1186/s12889-024-19451-4 Google Scholar