Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

CHĂM SÓC VÀ XỬ TRÍ NHIỄM TRÙNG NẶNG QUANH CHÂN MỞ THÔNG DẠ DÀY QUA NỘI SOI KÈM THEO RÒ DẠ DÀY-DA KÉO DÀI: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Lê Thị Hằng1,2, Nguyễn Hữu Quân1,2, Lê Quang Trí1,2, Nguyễn Thị Thắm3,4, Nguyễn Thu Hương3,4, Nguyễn Thị Phương3,4, Nguyễn Thị Nhị3,4, Nguyễn Hoàng Nam3,4, Trần Thị Thúy Hường5,6
1 Bach Mai Hospital
2 Bệnh viện Bạch Mai
3 Hanoi Medical University Hospital
4 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
5 Dong Da General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Đống Đa
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5556
49 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Bối cảnh: Mở thông dạ dày qua nội soi (PEG) là phương pháp nuôi dưỡng đường tiêu hóa thường được chỉ định cho người bệnh cần hỗ trợ dinh dưỡng dài hạn. Nhiễm trùng quanh chân PEG và rò dịch tiêu hóa là các biến chứng đã được ghi nhận, nhưng tổn thương lan sâu thành bụng kèm rò kéo dài vẫn ít gặp trên lâm sàng.

Trình bày ca bệnh: Người bệnh nam 72 tuổi, có tiền sử đái tháo đường type 2, di chứng sau ngừng tuần hoàn, mở khí quản và nuôi dưỡng qua PEG hơn 3 năm. 3 ngày sau thay ống PEG định kỳ, người bệnh xuất hiện sốt cao, giảm tri giác, rò nhiều dịch dạ dày quanh chân mở thông và viêm tấy rộng vùng thành bụng trước. Khi nhập viện, người bệnh có nhiễm trùng nặng, tăng áp lực thẩm thấu do tăng đường huyết và suy thận cấp.

Can thiệp và kết quả: Người bệnh được hồi sức tích cực, dùng kháng sinh phổ rộng, rút bỏ ống PEG, dẫn lưu dạ dày, đặt sonde hỗng tràng và áp dụng liệu pháp hút áp lực âm. Lượng dịch rò giảm dần, mô hạt phát triển tốt và vết thương liền hoàn toàn sau 58 ngày.

Kết luận: Chiến lược phối hợp kiểm soát nhiễm trùng, kiểm soát nguồn rò, duy trì nuôi dưỡng đường ruột và hút áp lực âm có thể mang lại kết quả khả quan ở người bệnh có biến chứng nặng quanh chân PEG. Phát hiện sớm biến chứng và theo dõi sát diễn biến tại chỗ có ý nghĩa quan trọng đối với tiên lượng điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Fugazza A, Capogreco A, Cappello A et al. Percutaneous endoscopic gastrostomy and jejunostomy: indications and techniques. World J Gastrointest Endosc, 2022, 14 (5): 250-266. doi: 10.4253/wjge.v14.i5.250 Google Scholar
[2]
Tae C.H, Lee J.Y, Joo M.K et al. Clinical practice guidelines for percutaneous endoscopic gastrostomy. Clin Endosc, 2023, 56 (4): 391-408. doi: 10.5946/ce.2023.062 Google Scholar
[3]
Choi I.H, Cho Y.K. Percutaneous endoscopic gastrostomy: procedure, complications and management. Brain Neurorehabil, 2022, 15 (1): e2. doi: 10.12786/bn.2022.15.e2 Google Scholar
[4]
Boeykens K, Duysburgh I, Verlinden W. Prevention and management of minor complications in percutaneous endoscopic gastrostomy. BMJ Open Gastroenterol, 2022, 9 (1). doi: 10.1136/bmjgast-2022-000975 Google Scholar
[5]
Rıdvan S, Güldan K, Rana B. Percutaneous endoscopic gastrostomy complications and management. Discover Medicine, 2026, 3 (1): 1. doi: 10.1007/s44337-025-00525-0 Google Scholar
[6]
Pepe G, Chiarello M.M, Bianchi V et al. Entero-cutaneous and entero-atmospheric fistulas: insights into management using negative pressure wound therapy. J Clin Med, 2024, 13 (5). doi: 10.3390/jcm13051279 Google Scholar
[7]
Luglio G, Amendola A, Pagano G et al. Combined surgical and negative pressure therapy to treat multiple enterocutaneous fistulas and abdominal abscesses: a case report. Ann Med Surg (Lond), 2020, 57: 123-126. doi: 10.1016/j.amsu.2020.06.037 Google Scholar
[8]
Stenberg K, Eriksson A, Odensten C, Darehed D. Mortality and complications after percutaneous endoscopic gastrostomy: a retrospective multicentre study. BMC Gastroenterol, 2022, 22 (1): 361. doi: 10.1186/s12876-022-02429-0 Google Scholar
[9]
Shehata M, Al Hosani I, Ahmed I et al. Factors associated with short-term complications after percutaneous endoscopic gastrostomy tube insertion: a retrospective cohort study. Cureus, 2024, 16 (3): e55741. doi: 10.7759/cureus.55741. Google Scholar