Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

MỐI LIÊN QUAN GIỮA KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ MỨC ĐỘ TỰ TIN TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM NĂM 2025

Nguyễn Thủy Tiên1,2, Trần Thị Thảo1,2, Khuất Thị Thảo1,2, Hoàng Xuân Quỳnh1,2, Nguyễn Phương Thảo1,2, Lê Thị Huyền Nga1,2, Trần Quang Huy1,2
1 Dai Nam University
2 Trường Đại học Đại Nam
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5547
90 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kỹ năng giao tiếp và mức độ tự tin trong thực hành lâm sàng; đồng thời phân tích mối liên quan giữa hai yếu tố này ở sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Đại Nam năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 150 sinh viên điều dưỡng đang thực tập lâm sàng. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi tự điền gồm thang đo kỹ năng giao tiếp lâm sàng và thang đo tự tin lâm sàng. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 26.0 với các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định T-test, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính.

Kết quả: Điểm trung bình kỹ năng giao tiếp và mức độ tự tin lần lượt là 3,58 ± 0,74 và 3,53 ± 0,78, cho thấy cả hai ở mức trung bình. Kỹ năng giao tiếp có tương quan thuận rất mạnh với mức độ tự tin (r = 0,847; p < 0,001). Phân tích hồi quy cho thấy kỹ năng giao tiếp là yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê đối với mức độ tự tin (β = 0,847; p < 0,001), với mô hình giải thích 71,7% biến thiên của biến phụ thuộc (R² = 0,717).

Kết luận: Kỹ năng giao tiếp có mối liên quan chặt chẽ và đóng vai trò dự báo mạnh đối với mức độ tự tin trong thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng. Cần tăng cường đào tạo và rèn luyện kỹ năng giao tiếp trong chương trình đào tạo nhằm nâng cao năng lực thực hành.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Hoàng Long. Một số yếu tố liên quan đến mức độ tự tin trong giao tiếp của điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tỉnh Thái Nguyên và Cao Bằng năm 2021. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, 2022. Google Scholar
[2]
Nguyễn Thị Ngoãn, Vũ Thị Đào, Nguyễn Thị Thảo Quyên, Trần Thị Hồng Phương. Những yếu tố ảnh hưởng đến học kỹ năng giao tiếp của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (3): 124-128. doi: 10.51298/vmj.v539i3.10168 Google Scholar
[3]
Leal-Costa C, Tirado González S, Ramos-Morcillo A.J, Ruzafa-Martínez M, Díaz Agea J.L, van der Hofstadt Román C.J. Communication skills and professional practice: Does it increase self-efficacy in nurses? Front Psychol, 2020, 11: 1169. doi: 10.3389/fpsyg.2020.01169 Google Scholar
[4]
Berkhof M, van Rijssen H.J, Schellart A.J.M, Anema J.R, van der Beek A.J. Effective training strategies for teaching communication skills to health care professionals: a systematic review. Patient Educ Couns, 2011, 84 (2): 152-162. doi: 10.1016/j.pec.2010.06.010 Google Scholar
[5]
Bandura A. Self-efficacy: toward a unifying theory of behavioral change. Psychological Review, 1977, 84 (2): 191-215. doi: 10.1037/0033-295X.84.2.191 Google Scholar
[6]
Nguyễn Ngọc Huyền. Sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng chính quy tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2019. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, 2019. Google Scholar
[7]
Fattahi M. The effect of communication skills training on the self-efficacy of nurses: a systematic review and meta-analysis study. Bali Med Journal, 2019, 8 (1): 144-152. doi: 10.15562/bmj.v8i1.1315 Google Scholar
[8]
Rosenzweig M et al. Patient communication simulation laboratory for students in an acute care nurse practitioner program. American Journal of Critical Care, 2008, 17 (4): 364-372. doi: 10.4037/ajcc2008.17.4.364 Google Scholar
[9]
Trần Thị Hồng Phương, Vũ Thị Đào, Bùi Thị Kim Tuyến, Võ Ngọc Cẩm Tú. Sự tự tin trong thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2024. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Trưng Vương, 2025, 1 (1): 63-66. doi: 10.64223/tvj.e2025.v1.i1.a14 Google Scholar
[10]
Trần Thị Hằng, Tôn Nữ Minh Đức, Nguyễn Thị Anh Phương, Trần Thị Nguyệt. Khảo sát năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng và các yếu tố liên quan. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2022, 12 (6): 22-29. doi: 10.34071/jmp.2022.6.3 Google Scholar