Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI GIAN MẮC BỆNH VÀ THỜI GIAN TỒN TẠI THƯƠNG TỔN Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH THUẬN

Phạm Đình Cao Minh1,2, Ngô Minh Trãi3,4, Trần Ngọc Ánh5,6
1 Alma Clinic Dermatology Clinic
2 Phòng khám Da liễu Alma Clinic
3 Binh Thuan General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận
5 Nguyen Tat Thanh University
6 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5541
25 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu này với mục tiêu xác định các yếu tố liên quan đến thời gian mắc bệnh và thời gian tồn tại thương tổn ở bệnh nhân mày đay mạn tính.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện trên 52 bệnh nhân mày đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận từ tháng 8/2015 đến tháng 6/2016. Các yếu tố được khảo sát bao gồm nhiễm Helicobacter pylori, virus viêm gan B và một số ký sinh trùng. Thời gian mắc bệnh và thời gian tồn tại thương tổn được ghi nhận và phân tích mối liên quan bằng các phép kiểm Chi bình phương, Fisher exact và t-test với mức ý nghĩa p < 0,05.

Kết quả: Không ghi nhận sự khác biệt về thời gian bệnh và thời gian tồn tại thương tổn giữa nhóm bệnh nhân có và không nhiễm H.pylori (p > 0,05). Thời gian tồn tại thương tổn giữa nhóm có và không nhiễm virus viêm gan B cũng không khác biệt có ý nghĩa thống kê, trong khi thời gian mắc bệnh có khác biệt giữa 2 nhóm. Bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng có tỷ lệ thương tổn tồn tại kéo dài (≥ 4 giờ) cao hơn và thời gian mắc bệnh trung bình dài hơn so với nhóm không nhiễm và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy nhiễm ký sinh trùng có liên quan với thời gian tồn tại thương tổn và thời gian mắc bệnh ở bệnh nhân mày đay mạn tính. Ngoài ra, thời gian mắc bệnh cũng khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có và không nhiễm virus viêm gan B. Trong khi đó, nghiên cứu chưa ghi nhận mối liên quan giữa nhiễm H.pylori với thời gian mắc bệnh hoặc thời gian tồn tại thương tổn. Những kết quả này gợi ý rằng việc tầm soát các yếu tố nhiễm trùng, đặc biệt là ký sinh trùng, có thể có ý nghĩa trong tiếp cận và đánh giá bệnh nhân mày đay mạn tính. Tuy nhiên, cần thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để làm rõ hơn vai trò của các yếu tố này.

Tài liệu tham khảo
[1]
Zuberbier T, Aberer W, Asero R et al. The EAACI/GA²LEN/EDF/WAO guideline for the definition, classification, diagnosis and management of urticaria. Allergy, 2018, 73 (7): 1393-1414. doi: 10.1111/all.13397 Google Scholar
[2]
Berberi G, Maazi M, Prosty C et al. Health-related quality of life in chronic urticaria: a systematic review and meta-analysis. J Allergy Clin Immunol Pract, 2025, 13 9): 2317-2328. doi: 10.1016/j.jaip.2025.03.049 Google Scholar
[3]
Kolkhir P, Balakirski G, Merk H.F et al. Chronic spontaneous urticaria and internal parasites - a systematic review. Allergy, 2016, 71 (3): 308-322. doi: 10.1111/all.12818 Google Scholar
[4]
Vezir S, Kaya F, Vezir E et al. Evaluation of intestinal parasites in patients with chronic spontaneous urticaria in a territory hospital in Turkey. J Infect Dev Ctries, 2019, 13 (10): 927-932. doi: 10.3855/jidc.11552 Google Scholar
[5]
Dennis M.F, Mavura D.R, Kini L et al. Association between chronic urticaria and Helicobacter pylori infection among patients attending a tertiary hospital in Tanzania. Dermatology Research and Practice, 2020 (1): 5932038. doi: 10.1155/2020/5932038 Google Scholar
[6]
Cui Y.L, Zhou B.Y, Gao G.C. A systematic review and meta-analysis of the correlation between Helicobacter pylori infection and chronic urticaria. Ann Palliat Med, 2021, 10 (10): 10584-10590. doi: 10.21037/apm-21-2324 Google Scholar
[7]
Essrani R, Sullivan M, Shah H. Chronic urticaria associated with Helicobacter pylori. Cureus, 2019, 11 (4): e4528. doi: 10.7759/cureus.4528 Google Scholar
[8]
Kolkhir P, Pereverzina N, Olisova O et al. Comorbidity of viral hepatitis and chronic spontaneous urticaria: a systematic review. Allergy, 2018, 73 (10): 1946-1953. doi: 10.1111/all.13482 Google Scholar