Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của răng khôn hàm dưới với tình trạng sâu mặt xa răng cối lớn thứ hai tương ứng.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 475 người bệnh từ đủ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị nhổ răng khôn hàm dưới tại Khoa Phẫu thuật trong miệng, Bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7-12 năm 2025. Các thông tin chung được thu thập thông qua hỏi bệnh, tình trạng sâu mặt xa răng cối lớn thứ hai hàm dưới và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của răng khôn tương ứng được ghi nhận thông qua khám lâm sàng kết hợp đọc phim toàn cảnh kỹ thuật số. Phân tích hồi quy logistic được sử dụng với mức ý nghĩa thống kê là p < 0,05.
Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ sâu mặt xa răng cối lớn thứ hai hàm dưới chiếm 49,5% trên tổng số đối tượng tham gia và 33,6% tính theo đơn vị răng khảo sát. Phân tích hồi quy logistic cho thấy nhóm bệnh nhân từ 25 tuổi trở lên và nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn đáng kể, với tỉ lệ lần lượt là 2,82 lần và 2,17 lần so với các nhóm tham chiếu (p < 0,001). Về đặc điểm của răng khôn, trạng thái mọc bán phần làm tăng nguy cơ sâu răng kế cận gấp 3,88 lần so với nhóm chưa mọc trên lâm sàng. Cùng với đó, hướng mọc nghiêng gần được xác định là yếu tố nguy cơ mạnh nhất với OR hiệu chỉnh đạt 4,37 (p < 0,001), theo sau là hướng mọc ngang với OR hiệu chỉnh là 2,74 (p = 0,002) khi so sánh với hướng mọc thẳng.
Kết luận: Tỉ lệ sâu mặt xa răng cối lớn thứ hai hàm dưới khá cao và liên quan chặt chẽ đến hướng mọc, trạng thái mọc của răng khôn cùng các yếu tố nhân khẩu học như tuổi và giới tính.