Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LỖ THÔNG MŨI - MIỆNG BẰNG VẠT NIÊM MẠC MÀNG XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN KHE HỞ MÔI - VÒM MIỆNG TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI TỪ THÁNG 6/2019 ĐẾN THÁNG 9/2020

Phạm Thanh Sơn1,2, Nguyễn Thị Chinh1,2, Hoàng Thị Hương3,4
1 Hai Duong Medical Technical University, Le Thanh Nghi Ward, Hai Phong City
2 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng
3 Central Dental and Maxillofacial Hospital of Hanoi, Hoan Kiem Ward, Hanoi City.
4 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội, Phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5513
19 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị lỗ thông mũi - miệng bằng vạt niêm mạc màng xương ở bệnh nhân khe hở môi - vòm miệng tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, không đối chứng.

Kết quả: Tuổi trung bình 13,88 ± 4,93; nhỏ nhất là 2 tuổi và cao nhất là 26 tuổi; chủ yếu > 12 tuổi chiếm 60,6%. Trong tuần đầu tình trạng vết mổ đều khá tốt, sưng nề gặp hầu hết trong các trường hợp (90,9%), 100% bệnh nhân không có biến chứng chảy máu, nhiễm trùng, bục vết mổ. Kết quả sau phẫu thuật 3 tháng chỉ có 1 trong tổng số 33 bệnh nhân có tái phát lỗ thông và cần phẫu thuật lại, sau 6 tháng đa số bệnh nhân có kết quả điều trị tốt, chỉ có 6,1% bệnh nhân cần thêm phẫu thuật lại bằng phương pháp khác; 93,9% bệnh nhân hết trào ngược khi ăn uống, hài lòng và cải thiện chất lượng cuộc sống.

 Kết luận: Trong nhóm lỗ thông nhỏ (< 5mm) được chọn làm nghiên cứu, việc đóng kín lỗ thông khắc phục được vấn đề trào ngược từ miệng lên mũi khi ăn uống, hầu hết các trường hợp không cải thiện phát âm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Arosarena A Oneida. "Cleft lip and palate", Otolaryngol, 2007, 40, Google Scholar
[2]
-60. DOI: 10.1016/j.otc.2006.10.011 Google Scholar
[3]
Lâm Hoài Phương (2007), Dị tật bẩm sinh hàm mặt, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. Google Scholar
[4]
Cohen SR, Kalinowski J, LaRossa D, Randall. Cleft palate fistulas: A multivariate statistical analysis of prevalence, etiology, and surgical management. Plast Reconstr Surg. 1991, 87:1041–7. DOI: https://doi.org/10.5125/jkaoms.2016.42.2.77 Google Scholar
[5]
Nguyễn Mạnh Hà, “Hiệu quả ghép xương ổ răng trên bệnh nhân sau phẫu thuật tạo hình KHM-VM toàn bộ” Luận văn CKII-Đại học Y Hà Nội, 2010, 25-27. Google Scholar
[6]
Nguyễn Bạch Dương, Trần Thư Trung, Lâm Hoài Phương. Đặc điểm tình hình khe hở môi – hàm ếch tại 32 tỉnh thành phía Nam từ 2007 – 2010.Tuyển tập Công trình Nghiên cứu Khoa học. Nhà xuất bản Y học, 2010, 81-89. DOI: https://doi.org/10.59294/HIUJS.31.2024.658 Google Scholar
[7]
Yu-Ying Chu, Frank Chun- Shin Chang, Ting-Chen Lu, et al. Surgical outcomes of secondary alveolar bone grafting and extensive gingivoperiosteoplasty performed at mixed dentition stage in unilateral complete cleft lip and palate. J Clin Med, 2020, 9(2): 576. https://doi.org/10.3390/jcm9020576 Google Scholar
[8]
Tovo AH, Prietsch JR, Collares MV. Tomographic assessment of bone formation after the collares technique of gingivoperiosteoplasty in patients with Cleft lip and palate. Cleft Palate Craniofac J. 2016, 53(1):47-56. DOI: 10.1597/14-089 Google Scholar
[9]
Bykowski MR, Sivak W, Garland C, et al. A Multimodal Preemptive Analgesic Protocol for Alveolar Bone Graft Surgery: Decreased Pain, Hospital Stay, and Health Care Costs. Cleft Palate Craniofac J. 2019, 56(4):479-486. DOI: 10.1177/22925503221088840 journals.sagepub.com/home/psg. Google Scholar