Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG GIÁC MẠC CỦA BỆNH NHÂN VIÊM KẾT GIÁC MẠC DO MICROSPORIDIA

Nguyễn Thị Nga Dương1,2, Đỗ Thị Thúy Hằng1,2, Nguyễn Thị Thu Thủy1,2, Trần Huyền Trang1,2, Phạm Ngọc Đông1,2
1 Cornea Department, Vietnam National Eye Hospital
2 Khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5502
40 Lượt xem
22 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái tổn thương giác mạc ở bệnh nhân viêm kết giác mạc do Microsporidia theo phân loại Mohanty (2021) và phân tích một số yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 46 mắt của 41 bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm kết giác mạc do Microsporidia bằng nhuộm Gram chất nạo biểu mô giác mạc tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 1-8 năm 2025. Tổn thương giác mạc được phân loại theo Mohanty và cộng sự. Tất cả bệnh nhân được điều trị nội khoa bằng Chlorhexidine 0,02% phối hợp kháng sinh nhóm Fluoroquinolone.

Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 47,9 ± 17,3 tuổi, nữ giới chiếm 73,2%. Thời gian từ khởi phát triệu chứng đến khi khám trung bình là 11,5 ± 10,8 ngày. Yếu tố nguy cơ chấn thương nông nghiệp/tiếp xúc bùn đất gặp ở 39% bệnh nhân; 14,6% bệnh nhân đã được sử dụng Corticoid tại chỗ trước khi chẩn đoán xác định. Tổn thương giác mạc có hình thái đa dạng: type 1 (chấm thô, gồ) thường gặp nhất, trong đó dưới type 1b (23,9%) và 1c (23,9%) có tỷ lệ cao nhất, type 1d (tỏa lan) chiếm 13% và luôn đi kèm cương tụ kết mạc nặng (100%). Type 3 (dạng chấm phẳng) chiếm tỉ lệ cao (26,1%). Thời gian điều trị khỏi trung bình là 18,1 ± 9,4 ngày; 47,8% mắt đạt thị lực trên 20/30 sau điều trị. Có 2 mắt để lại sẹo giác mạc, đều thuộc type 1d.

Kết luận: Viêm kết giác mạc do Microsporidia tại Việt Nam có hình thái tổn thương giác mạc đa dạng. Các tổn thương trung tâm/cạnh trung tâm dạng chấm thô gồ (type 1b-1c) và dạng chấm phẳng (type 3) thường gặp nhất. Việc nhận diện đúng và sớm hình thái tổn thương giác mạc có thể hỗ trợ chẩn đoán định hướng theo dõi điều trị cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo
[1]
Weber R et al. Human microsporidial infections. Clin Microbiol Rev, 1994, 7 (4): 426-461. doi: 10.1128/CMR.7.4.426 Google Scholar
[2]
Joseph J et al. Clinical and microbiological profile of microsporidial keratoconjunctivitis in southern India. Ophthalmology, 2006, 113 (4): 531-537. doi: 10.1016/j.ophtha.2005.10.062 Google Scholar
[3]
Tham A.C et al. Clinical spectrum of microsporidial keratoconjunctivitis. Clin Exp Ophthalmol, 2012, 40 (5): 512-518. doi: 10.1111/j.1442-9071.2011.02712.x Google Scholar
[4]
Das S et al. Diagnosis, clinical features and treatment outcome of microsporidial keratoconjunctivitis. Br J Ophthalmol, 2012, 96 (6): 793-795. doi: 10.1136/bjophthalmol-2011-301227 Google Scholar
[5]
Chan C.M et al. Microsporidial keratoconjunctivitis in healthy individuals: a case series. Ophthalmology, 2003, 110 (7): 1420-1425. doi: 10.1016/S0161-6420(03)00448-2 Google Scholar
[6]
Loh R.S et al. Emerging prevalence of microsporidial keratitis in Singapore: epidemiology, clinical features, and management. Ophthalmology, 2009, 116 (12): 2348-2353. doi: 10.1016/j.ophtha.2009.05.004 Google Scholar
[7]
Garg P. Microsporidia infection of the cornea - a unique and challenging disease. Cornea, 2013, 32 (Suppl 1): S33-S38. doi: 10.1097/ICO.0b013e3182a2c91f Google Scholar
[8]
Sharma S et al. Microsporidial keratitis: need for increased awareness. Surv Ophthalmol, 2011, 56 (1): 1-22. doi: 10.1016/j.survophthal.2010.03.006 Google Scholar
[9]
Mohanty A et al. A prospective study on clinical course and proposed morphological classification scheme of microsporidial keratoconjunctivitis. Semin Ophthalmol, 2021, 36 (8): 818-823. doi: 10.1080/08820538.2021.1923762 Google Scholar
[10]
Phạm Ngọc Đông và cộng sự. Microsporidia: tác nhân viêm giác mạc nhu mô lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2015, 40: 13-20. Google Scholar
[11]
Nguyễn Thị Vân Quỳnh và cộng sự. Kết quả điều trị viêm loét giác mạc do Microsporidia bằng phẫu thuật ghép giác mạc xuyên. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 521 (1): 281-286. doi: 10.51298/vmj.v521i1.4002 Google Scholar
[12]
Trần Khánh Sâm và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng và dịch tễ viêm giác mạc do Microsporidia. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 533 (12 số 2): 33-37. doi: 10.51298/vmj.v533i2.7907 Google Scholar
[13]
Phạm Ngọc Đông và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm kết giác mạc nông do Microsporidia. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2018, 5: 129-135. Google Scholar
[14]
Cali A et al. Corneal microsporidioses: characterization and identification. J Protozool, 1991, 38 (6): 215S-217S. Google Scholar
[15]
Didier E.S et al. Microsporidiosis: current status. Curr Opin Infect Dis, 2006, 19 (5): 485-492. doi: 10.1097/01.qco.0000244055.46382.23 Google Scholar
[16]
Quek D.T et al. Microsporidial keratoconjunctivitis in the tropics: a case series. Open Ophthalmol J, 2011, 5: 42-47. doi: 10.2174/1874364101105010042 Google Scholar
[17]
Wang W.Y et al. Outbreak of microsporidial keratoconjunctivitis associated with water contamination in swimming pools in Taiwan. Am J Ophthalmol, 2018, 194: 101-109. doi: 10.1016/j.ajo.2018.07.019 Google Scholar
[18]
Das S et al. The efficacy of corneal debridement in the treatment of microsporidial keratoconjunctivitis: a prospective randomized clinical trial. Am J Ophthalmol, 2014, 157 (6): 1151-1155. doi: 10.1016/j.ajo.2014.02.050 Google Scholar