Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẤM DỨT THAI KỲ CỦA NHỮNG TRƯỜNG HỢP CHUYỂN DẠ SINH NON

Lê Thị Chọn1,2, Nguyễn Văn Lâm3,4, Dương Kim Ngân5,6, Lê Thị Thu Trang7,8
1 Viet Anh Multispeialty Clinic
2 Phòng khám Đa khoa Việt Anh
3 Can Tho University of Medicine and Pharmacy
4 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
5 Ca Mau Obstetrics and Pediatrics Hospital
6 Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau
7 Thu Duc regional General Hospital
8 Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5496
21 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá phương pháp chấm dứt thai kỳ của những thai phụ chuyển dạ sinh non tại Bệnh viện Đa khoa Bình Dương từ tháng 7/2025 đến tháng 2/2026.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích, tiến cứu.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của thai phụ trong nhóm nghiên cứu là 26,14 ± 8,06 tuổi, nhỏ nhất 15 tuổi và lớn nhất 42 tuổi. Đa số thai phụ sống ở nông thôn (96,67%), đã có 1 con (57,78%). Có 25,56% thai phụ làm việc trên 8 giờ/ngày; và 35,55% có BMI ≥ 23 kg/m2. Tuổi thai trung bình lúc nhập viện là 34,14 ± 2,45 tuần, nhỏ nhất là 28 tuần và lớn nhất là 36 tuần 6 ngày. Có 48,89% thai phụ sinh ngả âm đạo, tỷ lệ mổ lấy thai và sinh ngả âm đạo của 2 nhóm tuổi thai tương đương nhau. Tỷ lệ nhập khoa hồi sức sơ sinh cao (85,55%).

Kết luận: Đa số các trường hợp sinh non xảy ra ở tuổi thai ≥ 34 tuần.

Tài liệu tham khảo
[1]
Ohuma E.O, Moller A.B, Bradley E et al. National, regional, and global estimates of preterm birth in 2020, with trends from 2010: a systematic analysis. Lancet, 2023, 402 (10409): 1261-1271. doi: 10.1016/S0140-6736(24)00267-8. Google Scholar
[2]
Trương Thiện Tiên, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Thị Bích Thủy và cộng sự. Tình hình sinh non tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tạp chí Phụ Sản, 2024, 22 (3): 38-43. doi: 10.46755/vjog.2024.3.1779 Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Tuấn Đạt, Phan Thị Huyền Thương. Kết quả điều trị các trường hợp ối vỡ non ở tuổi thai từ 24-34 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 534 (1): 1-4. doi: 10.51298/vmj.v534i1.8013 Google Scholar
[4]
Châu Huệ Mẫn, Phan Quỳnh Như, Ngô Thanh Thảo và cộng sự. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2021-2022. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, 56: 86-93. doi: 10.58490/ctump.2023i56.504 Google Scholar
[5]
Đỗ Hoàng Yến, Bùi Thị Thủy Tiên, Phùng Nguyễn Thế Nguyên. Các yếu tố liên quan đến tử vong trẻ sơ sinh non tháng dưới 32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 544 (2): 263-267. doi: 10.51298/vmj.v544i2.11866 Google Scholar
[6]
Lương Hoàng Thành, Đỗ Xuân Vinh, Dương Thị Thu Hà. Đặc điểm và thái độ xử trí ối vỡ non ở tuổi thai từ 28 tuần 0 ngày đến 33 tuần 6 ngày tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (1B): 58-62. doi: 10.51298/vmj.v539i1B.9905 Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Hồng, Lục Thị Xuân, Nguyễn Thị Giang và cộng sự. Tình hình kết quả sinh non tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020. Tạp chí Phụ Sản, 2022, 20 (3): 50-54. doi: 10.46755/vjog.2022.3.1428 Google Scholar
[8]
Đào Thị Huyền Trang, Nguyễn Mạnh Thắng. Tình hình đẻ non và các phương pháp xử trí tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Phụ Sản, 2018, 15 (4): 36-40. doi: 10.46755/vjog.2018.4.490 Google Scholar
[9]
Klumper J, Ravelli A.C.J, Roos C, Abu-Hanna A, Oudijk M.A. Trends in preterm birth in the Netherlands in 2011-2019: a population-based study among singletons and multiples. Acta Obstetricia et Gynecologica Scandinavica, 2024, 103 (3): 449-458. doi: 10.1111/aogs.14684 Google Scholar
[10]
Vương Thị Như Quỳnh, Mai Trọng Hưng. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thai phụ dọa sinh non có cổ tử cung ngắn tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2026, 558 (2): 26-30. doi: 10.1111/aogs.14684. Google Scholar