Bài báo khoa học Tập 67 Số 6 25/06/2026

ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU VỀ HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA KỸ THUẬT ĐỐT SÓNG CAO TẦN NỐT TUYẾN GIÁP LÀNH TÍNH KHÔNG HOẠT ĐỘNG CHỨC NĂNG

Nguyễn Đắc Khánh1,2, Nguyễn Văn Cảnh3,4, Nguyễn Bảo Đông3,4, Tô Nam Hoàng3,4, Phạm Thị Hòa3,4
1 Sun Hospital
2 Bệnh viện Mặt trời
3 Northern General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc
DOI: 10.52163/yhc.v67i6.5483
18 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật đốt sóng cao tần trong điều trị nốt tuyến giáp lành tính tại Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 20 bệnh nhân theo thiết kế trước-sau, thu thập số liệu tại 2 thời điểm: trước điều trị và sau điều trị 12 tháng bằng đốt sóng cao tần, được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc trong thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2024.

Kết quả: Độ tuổi trung bình là 49,7. Sau đốt sóng cao tần nốt tuyến giáp 12 tháng, điểm triệu chứng trung bình (thang điểm 0-10) giảm từ 3,53 trước điều trị xuống 1,02; điểm thẩm mỹ trung bình (thang điểm 1-4) giảm từ 3,1 xuống 1,5. Thể tích trung bình của nốt tuyến giáp trước điều trị là 4,92 mL, giảm còn 1,04 mL sau 12 tháng, tương ứng với tỷ lệ giảm thể tích trung bình 78,9%. Các biến chứng ghi nhận đều ở mức độ nhẹ và tự giới hạn. Cụ thể, 1 bệnh nhân xuất hiện đau vùng hàm phải và nửa đầu phải, tự hết sau thủ thuật; 1 bệnh nhân có tụ máu nhẹ vùng cổ, không cần can thiệp; 1 bệnh nhân khàn tiếng trong quá trình đốt, hồi phục ngay sau đó; 3 bệnh nhân xuất hiện cường giáp dưới lâm sàng tại thời điểm 1 tuần sau đốt và trở về bình giáp sau 1 tháng.

Kết luận: Đốt sóng cao tần là phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu, an toàn và hiệu quả đối với nốt tuyến giáp lành tính, với khả năng giảm thể tích nốt đáng kể, cải thiện triệu chứng và thẩm mỹ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Haugen B.R, Alexander E.K, Bible K.C et al. 2015 American Thyroid Association Management Guidelines for adult patients with thyroid nodules and differentiated thyroid cancer. Thyroid Off J Am Thyroid Assoc, 2016, 26 (1): 1-133. doi: 10.1089/thy.2015.0020 Google Scholar
[2]
Hauch A, Al-Qurayshi Z, Randolph G, Kandil E. Total thyroidectomy is associated with increased risk of complications for low- and high-volume surgeons. Ann Surg Oncol, 2014, 21 (12): 3844-3852. doi: 10.1245/s10434-014-3846-8 Google Scholar
[3]
Mainini A.P, Monaco C, Pescatori L.C et al. Image-guided thermal ablation of benign thyroid nodules. J Ultrasound, 2017, 20 (1): 11-22. doi: 10.1007/s40477-016-0221-6 Google Scholar
[4]
Jung S.L, Baek J.H, Lee J.H et al. Efficacy and safety of radiofrequency ablation for benign thyroid nodules: a prospective multicenter study. Korean J Radiol, 2018, 19 (1): 167-174. doi: 10.3348/kjr.2018.19.1.167 Google Scholar
[5]
Lim H.K, Lee J, Ha E.J, Sung J.Y, Kim J.K, Baek J.H. Radiofrequency ablation of benign non-functioning thyroid nodules: 4-year follow-up results for 111 patients. Eur Radiol, 2013, 23 (4): 1044-1049. doi: 10.1007/s00330-012-2671-3 Google Scholar
[6]
Kandil E, Omar M, Aboueisha M et al. Efficacy and safety of radiofrequency ablation of thyroid nodules: a multi-institutional prospective cohort study. Ann Surg, 2022, 276 (4): 589-596. doi: 10.1097/SLA.0000000000005594 Google Scholar
[7]
Guang Y, He W, Luo Y et al. Patient satisfaction of radiofrequency ablation for symptomatic benign solid thyroid nodules: our experience for 2-year follow up. BMC Cancer, 2019, 19 (1): 147. doi: 10.1186/s12885-019-5338-5 Google Scholar
[8]
Chung S.R, Suh C.H, Baek J.H, Park H.S, Choi Y.J, Lee J.H. Safety of radiofrequency ablation of benign thyroid nodules and recurrent thyroid cancers: a systematic review and meta-analysis. Int J Hyperth Off J Eur Soc Hyperthermic Oncol North Am Hyperth Group, 2017, 33 (8): 920-930. doi: 10.1080/02656736.2017.1337936 Google Scholar
[9]
Wang N, Zheng B, Wu T et al. Thyroid dysfunction following radiofrequency ablation for benign thyroid nodules: more likely to occur within one-week and in high-risk population. Int J Hyperth Off J Eur Soc Hyperthermic Oncol North Am Hyperth Group, 2021, 38 (1): 1060-1068. doi: 10.1080/02656736.2021.1950849 Google Scholar