Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II-III được hóa xạ trị đồng thời tiền phẫu tại bệnh viện ung bướu tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có theo dõi dọc trên 75 bệnh nhân ung thư trực tràng thấp, trung bình giai đoạn II,III được điều trị hoá xạ trị đồng thời tiền phẫu tại bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa từ 01/2018 đến 12/2022 .
Kết quả: Tuổi gặp nhất là 40-59 tuổi (54,7%). Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 34; lớn tuổi nhất là 83; tuổi trung bình là 56,7 ± 12,3. Tỷ lệ nam/nữ là ~2,7/1. Đa số các bệnh nhân đến khám bệnh sau khi có triệu chứng đầu tiên ≤ 3 tháng (89,3%). Triệu chứng lâm sàng hay gặp ở bệnh nhân ung thư trực tràng bao gồm đại tiện phân nhầy lẫn máu (86,7%), mót rặn (64,0%) và đại tiện khó (46,7%). Ung thư trực tràng thấp chiếm tỷ lệ 56,0%. Hình thái u trên nội soi chủ yếu là dạng u sùi (86,7%), 13,3% dạng sùi loét, không có dạng loét hay nhiễm cứng. Tỷ lệ giai đoạn II/III của nhóm nghiên cứu là 41,3%/58,7%. 100% bệnh nhân được phẫu thuật triệt căn, trong đó 65,3% được phẫu thuật bảo tồn cơ thắt. Sau điều trị có 20,0% giai đoạn III và 5,3% giai đoạn IV. Sự cải thiện sau điều trị là có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 8,0%; đáp ứng toàn bộ sau hóa xạ đồng thời là 86,7%. Có 2,7% trường hợp tiến triển tại vùng (hạch tăng kích thước). Trung vị thời gian theo dõi là 42,6 tháng. Tỷ lệ DFS tại thời điểm 1,3,5 năm lần lượt là 100,0; 78,7 và 60,3%.