Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ6-NCKH 16/06/2026

KHẢO SÁT TỈ LỆ ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THÂN SỐNG QUA DA BẰNG BƠM XI MĂNG SINH HỌC Ở BỆNH NHÂN XẸP ĐỐT SỐNG NGỰC – LƯNG DO LOÃNG XƯƠNG

Trần Văn Sang1,2,3,4, Trần Minh Huy2,4, Nguyễn Ngọc Khang5,6
1 Da Nang C Hospital
2 Ho Chi Minh City University of Medicine and Pharmacy
3 Bệnh viện C Đà Nẵng
4 Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
5 Gia An 115 Hospital
6 Bệnh viện Gia An 115
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD6.5318
23 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Xẹp đốt sống do loãng xương gây đau lưng kéo dài, giảm vận động và chất lượng sống. Phẫu thuật tạo hình thân đốt sống qua da bằng bơm xi măng sinh học (THTĐSQD) cho hiệu quả giảm đau nhanh, nhưng tỷ lệ điều trị loãng xương sau mổ còn chưa thống nhất, làm tăng nguy cơ gãy xương tái phát.

Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ điều trị loãng xương và một số yếu tố liên quan đến điều trị loãng xương sau phẫu thuật THTĐSQD ở bệnh nhân xẹp đốt sống ngực – lưng do loãng xương.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 38 bệnh nhân điều trị tại khoa Ngoại Thần kinh – Bệnh viện Chợ Rẫy (01/2024–03/2025).

Kết quả và bàn luận: Sau phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học, 100% bệnh nhân được điều trị với Canxi-Vitamin D, mặc dù Canxi-Vitamin D quan trọng đối với sức khỏe xương nói chung, có tác động hạn chế và không nhất quán trong việc giảm nguy cơ gãy xương đốt sống ở người lớn tuổi. Vì vậy bệnh nhân cần được điều trị với các thuốc loãng xương đặc hiệu, theo nghiên cứu 86,8% bệnh nhân được điều trị với nhóm điều trị loãng xương đặc hiệu bao gồm: 63,2% bệnh nhân được điều trị với thuốc nhóm Bisphosphonate đường uống, 21,1% bệnh nhân được điều trị với thuốc nhóm Bisphosphonate đường tĩnh mạch, 18,4% bệnh nhân được điều trị với Calcitonin. Có 5 bệnh nhân không được điều trị với nhóm thuốc điều trị loãng xương đặc hiệu vì các lí do: không được tư vấn, không có kinh phí và hết đau sau phẫu thuật. Vì vậy, cần nâng cao công tác tư vấn của điều trị loãng xương giúp bệnh nhân hiểu rõ tầm quan trọng của việc điều trị, đồng thời phối hợp điều trị giữa khoa Nội cơ xương khớp và khoa Ngoại Thần Kinh để tăng hiệu quả điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Compston J, Cooper A, Cooper C, et al. UK clinical guideline for the prevention and treatment of osteoporosis. Archives of osteoporosis. 2017;12:1-24. https://doi.org/10.1007/s11657-017-0324-5 Google Scholar
[2]
Jackson RD, LaCroix AZ, Gass M, et al. Calcium plus vitamin D supplementation and the risk of fractures. New England Journal of Medicine. 2006;354(7):669-683. DOI: 10.1056/NEJMoa055218 Google Scholar
[3]
Kanis JA, Harvey NC, Johansson H, et al. FRAX update. Journal of Clinical Densitometry. 2017;20(3):360-367. https://doi.org/10.1016/j.jocd.2017.06.022 Google Scholar
[4]
Bộ Y tế. Quyết định 361/QĐ-BYT ngày 25/1/2014 về việc “Ban hành về Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh lý xương khớp”. 2014:169-171. Google Scholar
[5]
Ferrari S, Lippuner K, Lamy O, Meier C. 2020 recommendations for osteoporosis treatment according to fracture risk from the Swiss Association against Osteoporosis (SVGO). Swiss medical weekly. 2020;150(3940):w20352-w20352. DOI: 10.4414/smw.2020.20352 Google Scholar
[6]
Gregson CL, Armstrong DJ, Bowden J, et al. UK clinical guideline for the prevention and treatment of osteoporosis. Archives of osteoporosis. 2022;17(1):58. https://doi.org/10.1007/s11657-022-01061-5 Google Scholar
[7]
Mehta N, Malootian A, Gilligan J. Calcitonin for osteoporosis and bone pain. Current pharmaceutical design. 2003;9(32):2659-2676. https://doi.org/10.2174/1381612033453622 Google Scholar
[8]
Chesnut III CH, Silverman S, Andriano K, et al. A randomized trial of nasal spray salmon calcitonin in postmenopausal women with established osteoporosis: the prevent recurrence of osteoporotic fractures study. The American journal of medicine. 2000;109(4):267-276. https://doi.org/10.1016/S0002-9343(00)00490-3 Google Scholar