Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ6-NCKH 16/06/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN KHÔNG MONG MUỐN TRONG 24H ĐẦU Ở SẢN PHỤ MỔ LẤY THAI ĐỦ THÁNG DƯỚI GÂY TÊ TỦY SỐNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI DƯƠNG

Trần Thị Thu Hường1,2, Vũ Thị Thanh Nhàn1,2, Tạ Thị Nguyên1,2
1 Hai Duong Medical Technical University
2 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD6.5307
18 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số biểu hiện không mong muốn trong 24 giờ đầu ở sản phụ sau mổ lấy thai dưới gây tê tủy sống tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 174 sản phụ mổ lấy thai dưới gây tê tủy sống tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2022.

Kết quả: Nhóm tuổi 25–29 chiếm tỷ lệ cao nhất (36,8%), tuổi trung bình 28,98 tuổi. Có 59,8% sản phụ là công nhân; 39,7% đã từng mổ lấy thai; 36,8% sinh con lần đầu. Trong 24 giờ đầu sau mổ, 85,1% sản phụ đau vết mổ, 48,3% đau co hồi tử cung và 47,7% rét run sinh lý. Giai đoạn khối cầu an toàn, 100% sản phụ có tử cung chắc; sau giai đoạn này có 12,6% tử cung mềm. Chiều cao tử cung trung bình là 16,66 cm. Lượng sản dịch chủ yếu khoảng 200 g (60,3%), không có trường hợp trên 500 g. Sản dịch chủ yếu màu đỏ thẫm (67,8%), không có máu cục (81,0%) và có mùi tanh nồng (98,9%). Một số biểu hiện không mong muốn ghi nhận gồm bí trung tiện (63,8%), nôn và buồn nôn (47,2%), đau đầu (24,2%). 

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. WHO recommendations: Uterotonics for the prevention of postpartum haemorrhage. Geneva: World Health Organization; 2018. Google Scholar
[2]
Nguyễn Hoàng Ngọc. Đánh giá tác dụng vô cảm và giảm đau sau mổ trong gây tê tủy sống bằng bupivacain kết hợp morphin. Tạp chí Phụ sản. 2012;10(2). Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Thanh Tú, Nguyễn Thị Thanh Vân. Tác dụng giảm đau và co hồi tử cung của “Cao lỏng sinh hóa” trên sản phụ sau đẻ thường. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2022;160(1):268-277. Google Scholar
[4]
Vũ Đình Hùng. Kiến thức thời kỳ hậu sản và chăm sóc hậu sản của sản phụ sau sinh nằm tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai năm 2016 [luận văn]. Hà Nội: Trường Đại học Y Hà Nội; 2018. Google Scholar
[5]
Lưu Tuyết Minh, Hoàng Phương Anh, Hà Thị Bích. Đánh giá chăm sóc sản phụ sau sinh đường âm đạo ở Khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;514(2):245-249. Google Scholar
[6]
Phạm Thị Anh Tú, Công Quyết Thắng, Lưu Quang Thùy. Đánh giá hiệu quả dự phòng nôn, buồn nôn bằng dexamethason 8 mg và ondansetron 4 mg trong gây tê tủy sống bằng bupivacain và morphin trong mổ lấy thai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;500(1):73-76. doi:10.51298/vmj.v500i1.291 Google Scholar
[7]
Đỗ Văn Lợi, Nguyễn Hoàng Ngọc, Lê Thiện Thái. Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng bệnh nhân tự điều khiển tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Phụ sản. 2014;12(2):139-141. Google Scholar
[8]
Vũ Mạnh Cường. Nghiên cứu chỉ định và biến chứng mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình [luận văn]. Hà Nội: Trường Đại học Y Hà Nội; 2016. Google Scholar
[9]
Trần Huỳnh Đào. Đánh giá hiệu quả phối hợp bupivacain với fentanyl và morphine trong gây tê tủy sống mổ lấy thai [luận văn]. Hồ Chí Minh: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2013. Google Scholar
[10]
Hồ Khả Cảnh. Nghiên cứu tác dụng dự phòng run lạnh của ketamin liều thấp sau gây tê tủy sống để phẫu thuật lấy thai [luận văn]. Huế: Đại học Y Dược Huế; 2010. Google Scholar