Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cùng với kết quả can thiệp bù phospho ở trẻ sốt xuất huyết Dengue (SXHD) nặng thở máy tại Bệnh viện Nhi Đồng 2.
Phương pháp: Thiết kế quan sát hồi cứu, mô tả hàng loạt ca. Đối tượng là các trẻ SXHD nặng thở máy và có dữ liệu xét nghiệm định lượng phospho huyết thanh trong giai đoạn từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2022. Hai ca tử vong sớm ngay khi nhập viện (điểm Glasgow bằng 3) bị loại khỏi phân tích nhằm hạn chế sai lệch nhiễu. Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng theo mức độ hạ phospho máu, đồng thời đối chiếu kết cục giữa hai phân nhóm: có và không được truyền bù phospho tĩnh mạch đối với các trường hợp hạ mức độ nặng.
Kết quả: Tổng cộng 57 bệnh nhi thỏa tiêu chí phân tích. Độ tuổi trung vị đạt 5,9 (khoảng tứ phân vị [IQR]: 3-8), bé trai chiếm 53%. Trong nhóm bệnh nhi được chỉ định xét nghiệm, tỉ lệ ghi nhận hạ phospho máu lên tới 84,2% (48/57), với 36,8% (21/57) rơi vào ngưỡng hạ nặng. Vào lúc nồng độ phospho chạm mức đáy, tri giác bệnh nhân suy giảm (Glasgow từ 15 rớt xuống 8), sức cơ suy yếu (từ 5 còn 3,5), thang điểm đánh giá suy tạng PELOD-2 tăng từ 4,5 lên 7, và nhu cầu vận mạch (điểm VIS) vọt từ 0 lên 10. So với nhóm hạ phospho nhẹ/trung bình (n=27), nhóm hạ nặng (n=21) phải duy trì thở máy lâu hơn (trung vị 7 ngày so với 4 ngày, p=0,005) cũng như cần dùng thuốc vận mạch dài ngày hơn (4 ngày so với 2 ngày, p=0,006). Đáng chú ý, trong nhóm hạ phospho nặng, các trẻ được can thiệp bù phospho (n=13) có số ngày thở máy rút ngắn và tỉ lệ tử vong thấp hơn hẳn nhóm không được can thiệp (n=8).
Kết luận: Hiện tượng hạ phospho máu xảy ra rất thường xuyên ở bệnh nhi SXHD nặng cần thở máy, đồng thời có sự tương quan với việc kéo dài thời gian thở máy và duy trì vận mạch. Dù số liệu hồi cứu bước đầu cho thấy ưu thế về mặt kết cục ở nhóm được bù phospho, chúng ta vẫn cần thêm các thử nghiệm tiền cứu với quy mô lớn hơn để khẳng định chắc chắn lợi ích sống còn của liệu pháp này.