Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ6-NCKH 16/06/2026

KẾT QUẢ ÁP DỤNG THANG ĐIỂM ENIO TRONG TIÊN LƯỢNG RÚT ỐNG NỘI KHÍ QUẢN Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG SỌ NÃO.

Vũ Văn Khâm1,2, Lê Hữu Á1,2, Hồ Sỹ Hải1,2, Hoàng Văn Tuấn1,2, Nguyễn Văn Hoàng1,2
1 Bach Mai Hospital
2 Bệnh viện Bạch Mai
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD6.5297
34 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề

Rút ống nội khí quản (NKQ) ở bệnh nhân tổn thương sọ não là quyết định lâm sàng khó khăn. Thất bại rút NKQ làm tăng tỷ lệ viêm phổi, kéo dài thời gian thở máy, tăng tử vong. Các tiêu chuẩn cai thở máy kinh điển chưa phản ánh khả năng bảo vệ đường thở và mức độ hồi phục thần kinh. Thang điểm ENIO được tích hợp các yếu tố thần kinh và hô hấp để hỗ trợ tiên lượng rút NKQ. Tuy nhiên, thang điểm ENIO tại Việt Nam còn chưa được nghiên cứu rộng rãi.

Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả rút ống nội khí quản và đánh giá giá trị của thang điểm ENIO trong tiên lượng rút ống nội khí quản ở bệnh nhân tổn thương sọ não.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện tại, Trung tâm Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2025 đến tháng 10/2025. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có tổn thương não, điểm Glasgow ≤ 12, thở máy xâm nhập trên 24 giờ. Bệnh nhân được rút NKQ sau khi cai máy thành công. Kết cục được xác định là thành công hoặc thất bại rút NKQ trong vòng 5 ngày sau rút. .

Kết quả

Trong 111 bệnh nhân nghiên cứu, 75 bệnh nhân (67,6%) rút NKQ thành công và 36 bệnh nhân (32,4%) rút NKQ thất bại. Các yếu tố liên quan rút NKQ thành công gồm phản xạ ho mạnh (81,3% so với 33,3%; p<0,001), GCS vận động cao (p=0,006) và tần suất hút đờm thấp (p<0,001).  Điểm ENIO ở nhóm rút ống thành công cao hơn rõ rệt so với nhóm thất bại (trung vị 63 so với 39), cho thấy thang điểm ENIO có khả năng phân biệt tốt kết cục rút nội khí quản.

Kết luận

Thang điểm ENIO rút gọn có giá trị hỗ trợ tiên lượng rút ống nội khí quản, với các yếu tố liên quan chặt chẽ đến thành công gồm phản xạ ho mạnh, nhu cầu hút đờm thấp và điểm GCS vận động cao. ENIO nên được phối hợp với đánh giá lâm sàng, đặc biệt phản xạ ho và GCS vận động, nhằm hỗ trợ quyết định rút nội khí quản an toàn hơn ở bệnh nhân tổn thương sọ não.

Tài liệu tham khảo
[1]
Cinotti R, Mijangos JC, Pelosi P, et al. (2022). Extubation in neurocritical care patients: the ENIO international prospective study. Intensive Care Medicine, 48(11), 1539-1550. Google Scholar
[2]
Asehnoune K, Seguin P, Lasocki S, et al. (2017). Extubation success prediction in a multicentric cohort of patients with severe brain injury (VISAGE Score). Anesthesiology, 127(2), 338-346. Google Scholar
[3]
Smina M, Salam A, Khamiees M, et al. (2003). Cough peak flows and extubation outcomes. Chest, 124(1), 262-268. Google Scholar
[4]
Duan J, Zhou L, Xiao M, et al. (2015). Semiquantitative cough strength score for predicting reintubation after planned extubation. American Journal of Critical Care, 24(6), e86-e90. Google Scholar
[5]
Coplin WM, Pierson DJ, Cooley KD, et al. (2000). Implications of extubation delay in brain-injured patients meeting standard weaning criteria. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 161(5), 1530-1536. Google Scholar
[6]
Epstein SK, Ciubotaru RL. (1998). Independent effects of etiology of failure and time to reintubation on outcome for patients failing extubation. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 158(2), 489-493. Google Scholar
[7]
Namen AM, Ely EW, Tatter SB, et al. (2001). Predictors of successful extubation in neurosurgical patients. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 163(3), 658-664. Google Scholar
[8]
Godet T, Chabanne R, Marin J, et al. (2017). Extubation failure in brain-injured patients: risk factors and development of a prediction score in a preliminary prospective cohort study. Anesthesiology, 126(1), 104-114. Google Scholar
[9]
Zhang X, Zheng S, Chen C, et al. (2025). Risk factors for failing endotracheal extubation in neurocritical patients: a retrospective cohort study. Frontiers in Neurology, 16, 1562454. Google Scholar