Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, siêu âm Doppler của người bệnh suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2025.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy tất cả các bệnh nhân khám ngoại trú được chẩn đoán suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính từ tháng 4/2025 đến tháng 9/2025.
Kết quả: Nghiên cứu thu thập được 342 bệnh nhân. Trong đó, nữ giới chiếm 76%. Tuổi trung bình của nữ giới là 67,3 ± 11,2 và của nam giới là 68,3 ± 9,8; nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (78,3%). Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là tức nặng chân (31,9%), sau đó là cảm giác tê bì, kiến bò (29,8%). Có 52,9% bệnh nhân đến khám ở giai đoạn C0 theo phân loại lâm sàng CEAP. Trong nghiên cứu, tĩnh mạch hiển lớn là tĩnh mạch dễ bị tổn thương nhất (63,2%), với đường kính trung bình đoạn quai giãn rộng 8,6 ± 1,3 mm và thời gian dòng trào ngược trung bình là 2,1s. Đường kính tĩnh mạch hiển lớn ở nhóm có tổn thương thực thể (C1-C3) giãn to hơn so với nhóm C0, có mối tương quan thuận chiều giữa mức độ giãn của tĩnh mạch hiển lớn đoạn dưới gối trên siêu âm và mức độ nặng lâm sàng theo CEAP (p < 0,001).
Kết luận: Người bệnh trong nhóm nghiên cứu phần lớn đến khám ở giai đoạn lâm sàng sớm (C0). Kết quả siêu âm cho thấy tình trạng suy tĩnh mạch tập trung nhiều nhất ở hệ tĩnh mạch hiển lớn. Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới không chỉ giúp chẩn đoán sớm, tránh bỏ sót tổn thương mà còn có vai trò quan trọng trong phân loại mức độ nặng và tiên lượng bệnh.