Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA Ù TAI ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH MẮC VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP NĂM 2025

Nguyễn Quang Hùng1,2, Nguyễn Huy Hoàng1,2, Nguyễn Quang Đạo3,4
1 Department of Otorhinolaryngology, Viet Tiep Friendship Hospital
2 Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp
3 Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
4 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5184
22 Lượt xem
4 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Viêm tai giữa mạn tính là bệnh lý viêm nhiễm mạn tính của niêm mạc hòm nhĩ và hệ thống thông bào xương chũm. Bệnh có thể gây suy giảm thính lực hay các biến chứng nguy hiểm hơn như các vấn đề liên quan đến vùng nội sọ. Mặc dù nghe kém và chảy tai là các biểu hiện lâm sàng điển hình nhưng ù tai mới là triệu chứng chức năng có tác động sâu sắc và kéo dài đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của ù tai đến chất lượng cuộc sống của người trưởng thành mắc viêm tai giữa tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2025.

Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 70 người bệnh từ đủ 18 tuổi được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2025.

Kết quả: Ảnh hưởng của ù tai đến chất lượng cuộc sống chủ yếu ở mức vừa (54,3%), tuy nhiên có 18,6% trường hợp ở mức nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Các vấn đề bị tác động nhiều nhất gồm rối loạn giấc ngủ (20,0%), cảm giác chán nản (17,1%) và khó tập trung (11,4%).

Kết luận: Ù tai không chỉ tồn tại dai dẳng mà còn gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt ở các lĩnh vực giấc ngủ, cảm xúc và khả năng tập trung.

Tài liệu tham khảo
[1]
N, P., et al., A Clinicopathological and Microbiological Study of Chronic Otitis Media. Otolaryngology Open Access Journal, 2024. 9: p. 1-7. Google Scholar
[2]
Mathema, L., et al., Chronic Otitis Media among Patients Visiting Community-Based Static Outreach Clinics. Journal of Nepal Medical Association, 2023. 61(268): p. 923-926. 10.31729/jnma.8369. Google Scholar
[3]
Jarach, C.M., et al., Global Prevalence and Incidence of Tinnitus: A Systematic Review and Meta-analysis. JAMA Neurol, 2022. 79(9): p. 888-900. 10.1001/jamaneurol.2022.2189. Google Scholar
[4]
Tailor, B.V., et al., Analysis of tinnitus severity and associated risk factors in patients with chronic otitis media: data from the multinational collaborative Chronic Otitis Media Questionnaire-12 study. J Laryngol Otol, 2022. 136(12): p. 1203-1210. 10.1017/S0022215121004266 Google Scholar
[5]
Tạ Hùng Sơn và Nguyễn Công Hoàng, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm tai giữa mạn tính, kết quả vá nhĩ đơn thuần đường trong ống tai. Tạp chí Tai mũi họng, 2024. 69: p. 16-22. 37/tmhvn.v69i66.164 Google Scholar
[6]
Santoshi Kumari, M., et al., Prevalence and associated risk factors of otitis media and its subtypes in South Indian population. Egyptian Journal of Ear, Nose, Throat and Allied Sciences, 2016. 17(2): p. 57-62. 10.1016/j.ejenta.2016.04.001 Google Scholar
[7]
Khiếu Hữu Thanh and Nguyễn Thị Hồng, Đối chiếu đặc điểm lâm sàng và thính lực ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Tạp chí Y học Việt Nam, 2019. Google Scholar
[8]
Baguley, D., D. McFerran, and D. Hall, Tinnitus. Lancet, 2013. 382(9904): p. 1600-7. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(13)60142-7 Google Scholar
[9]
Eggermont, J.J. and L.E. Roberts, The neuroscience of tinnitus. Trends Neurosci, 2004. 27(11): p. 676-82. 10.1016/j.tins.2004.08.010. Google Scholar