Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

ĐO CHIỀU DÀI ỐNG TỦY TRÊN RĂNG NHỰA TRONG SUỐT IN 3D BẰNG MÁY NỘI NHA TÍCH HỢP ĐỊNH VỊ LỖ CHÓP ĐIỆN TỬ: NGHIÊN CỨU IN VITRO

Lê Hoàng Lan Anh1,2, Phạm Trần Lan Khuê1,2, Huỳnh Châu Quang Khải3,4, Phan Nhựt Thúy Vy5,6, Nguyễn Phúc Nguyên7,8, Nguyễn Ngọc Hiển9,10, Tạ Thị Hồng Nhung11,12, Lê Ánh Hồng13,14
1 Faculty of Dentistry, University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City, Vietnam
2 Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3 National Hospital of Odonto-Stomatology, Ho Chi Minh City
4 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh
5 Nguyen Hong Dental Clinic
6 Phòng khám Chuyên khoa Răng Hàm Mặt Nguyên Hồng
7 Nguyen Thi Bich Ngoc Dental Clinic
8 Nha Khoa Nguyễn Thị Bích Ngọc
9 An Binh Hospital
10 Bệnh viện An Bình
11 Greenfield Dental Clinic
12 Nha Khoa Greenfield
13 Khang Minh Dental Company Limited
14 Công ty TNHH Nha khoa Khang Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5176
25 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát độ chính xác và tính lặp lại của hệ thống định vị lỗ chóp điện tử tích hợp trong máy nội nha Ai-Motor khi ứng dụng trên mô hình răng nhựa trong suốt in 3D, trong điều kiện môi trường dung dịch chlorhexidine.

Phương pháp: Ba răng cối nhỏ người đã nhổ, thu thập từ các bệnh nhân có chỉ định nhổ răng trong điều trị chỉnh hình, được quét ba chiều bằng cone-beam computed tomography (CBCT). Từ dữ liệu này, mười mô hình răng nhựa trong suốt in 3D được thiết kế và chế tạo, với xoang mở tủy được chuẩn bị sẵn bằng phần mềm chuyên dụng. Các mẫu răng nhựa được đặt trong hộp nhựa trong chứa dung dịch và cố định trên bàn chứa mẫu của kính hiển vi quang học. Dụng cụ WaveOne Gold Primary (Dentsply Sirona, Maillefer, Switzerland) được gắn vào tay khoan nội nha của máy Ai-Motor và cố định trên một hệ thống kính hiển vi riêng biệt, sau đó được đưa vào ống tủy để xác định vị trí lỗ chóp ở hai chế độ vận hành: chế độ tự động dừng và chế độ tự động quay ngược khi dụng cụ đạt đến chóp. Sự thay đổi vị trí của núm xoay vi cấp của kính hiển vi giữa các lần đo được ghi nhận và dùng làm cơ sở so sánh. Phương pháp phân tích Bland–Altman được áp dụng để đánh giá mức độ thống nhất giữa hai chế độ định vị chóp.

Kết quả: Kết quả phân tích cho thấy hai chế độ vận hành của máy có mức độ phù hợp cao, không xuất hiện sai số cố định hay sai số tỷ lệ, đồng thời không ghi nhận ảnh hưởng đáng kể của dung dịch chlorhexidine đến kết quả đo.

Kết luận: Máy định vị lỗ chóp điện tử tích hợp trong máy nội nha Ai-Motor cho khả năng xác định vị trí lỗ chóp với độ độ tin cậy tốt trên răng nhựa trong suốt in 3D trong môi trường dung dịch .

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo
[1]
Pham K. Endodontic length measurements using 3D Endo, cone-beam computed tomography, and electronic apex locator. BMC Oral Health. 2021;21. DOI: 10.1186/s12903-021-01625-w Google Scholar
[2]
Pham V-K, Pham T-L-K. Root canal length estimated by cone-beam computed tomography at different slice thicknesses, dedicated endodontic software, or measured by an electronic apex locator. Scientific Reports. 2022;12(1):6531. DOI: 10.1038/s41598-022-10534-z Google Scholar
[3]
Nguyen PN, Pham KV. Endodontic Length Measurements Using Different Modalities: An: In Vitro: Study. Journal of International Society of Preventive and Community Dentistry. 2020;10(6). DOI: 10.4103/jispcd.JISPCD_357_20 Google Scholar
[4]
Van Pham K. Endodontic length measurements using cone beam computed tomography with dedicated or conventional software at different voxel sizes. Scientific Reports. 2021;11(1):9432. DOI: 10.1038/s41598-021-88980-4 Google Scholar
[5]
Bernardi A, Teixeira CS. The properties of chlorhexidine and undesired effects of its use in endodontics. Quintessence international (Berlin, Germany : 1985). 2015;46(7):575-82. DOI: 10.3290/j.qi.a33934 Google Scholar
[6]
Reymus M, Fotiadou C, Kessler A, Heck K, Hickel R, Diegritz C. 3D printed replicas for endodontic education. International Endodontic Journal. 2019;52(1):123-30. DOI: 10.1111/iej.12964 Google Scholar