Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

KHẢO SÁT MÔ HÌNH BỆNH DA VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI XÃ LONG HIỆP, TỈNH VĨNH LONG NĂM 2025

Hà Minh Phương1,2, Nguyễn Huỳnh Ngân3,4
1 An Giang Center for Disease Control
2 Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh An Giang
3 Can Tho University of Medicine and Pharmacy
4 Đại học Y dược Cần Thơ
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5170
30 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát cơ cấu bệnh tật và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc bệnh da.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 118 bệnh nhân bệnh da tại xã Long Hiệp, tỉnh Vĩnh Long năm 2025.

Kết quả: Bốn bệnh da phổ biến nhất là viêm da cơ địa (29,7%), mụn trứng cá (23,7%), viêm da tiếp xúc (12,7%) và mày đay (11,0%). Kết quả cho thấy nghề nghiệp, dân tộc là các yếu tố nhân khẩu học chính liên quan đến thực trạng mắc các bệnh da phổ biến. Bên cạnh đó, tiền sử dị ứng có liên quan đến bệnh trứng cá. Đối với các yếu tố hành vi, kết quả cũng cho thấy các hành vi như tiếp xúc với ánh sáng mặt trời >30 phút/ngày, sử dụng dụng cụ chống nắng, dùng sữa tắm hoặc dùng xà bông cục cũng có liên quan có ý nghĩa thống kê với ba bệnh da chính là viêm da cơ địa, mụn trứng cá và mày đay.

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh da trong cộng đồng rất đa dạng. Kết quả gợi ý vai trò của các yếu tố môi trường và hành vi trong bệnh sinh bệnh da, từ đó gợi ý cần tăng cường các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe và can thiệp dự phòng phù hợp tại cộng đồng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Li D., Fan S., Zhao H., et al. (2026). Global, regional and national burden of skin and subcutaneous diseases: a systematic analysis of the Global Burden of Disease Study 2021. Int Health, 18(2), 183–196. doi: 10.1093/inthealth/ihaf070. PMID: 40580005; PMCID: PMC13017215. Google Scholar
[2]
Karimkhani C., Dellavalle R.P., Coffeng L.E., et al. (2017). Global Skin Disease Morbidity and Mortality: An Update From the Global Burden of Disease Study 2013. JAMA Dermatol, 153(5), 406–412. doi: 10.1001/jamadermatol.2016.5538. PMID: 28249066; PMCID: PMC5817488. Google Scholar
[3]
Phạm Thị Nhã Trúc, Nguyễn Văn Nguyên, Giang Cẩm Nhung, và cs. (2025). Tỷ lệ hiện mắc bệnh về da và một số yếu tố nguy cơ của bệnh da tại một xã ven biển Việt Nam. Tạp chí Y học Việt Nam, 556(2): 298-302. https://doi.org/10.51298/vmj.v556i2.16422 Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Thúy Liễu, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Huỳnh Thị Xuân Linh. (2025). Tỷ lệ một số bệnh da liễu thường gặp tại bệnh viện trường đại học Trà Vinh. Tạp chí Y học Việt Nam, 549(3):385-388. https://doi.org/10.51298/vmj.v549i3.14020 Google Scholar
[5]
Huỳnh Văn Bá, Huỳnh Văn Tùng, Nguyễn Văn Nguyên, và cs. (2024). Thực trạng các bệnh về da ở quần đảo Nam Du, tỉnh Kiên Giang, năm 2023. Tạp chí Y học cộng đồng, 65(5): 170-177. https://doi.org/10.52163/yhc.v65i5.1426 Google Scholar
[6]
Nguyễn Minh Thu, Đào Hữu Ghi, Nguyễn Thị Thanh Thùy, và cs. (2023). Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh viêm da cơ địa mức độ nặng tại bệnh viện da liễu trung ương. Tạp chí Da liễu học Việt Nam, (40):54-63. https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.40.102 Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Huyền Trang, Bùi Thị Lệ Uyên. (2024). Tỷ lệ, loại tổn thương, mức độ mụn trứng cá và một số yếu tố liên quan đến mụn trứng cá ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2023. Tạp chí Y dược học Cần Thơ, (72), 1–7. https://doi.org/10.58490/ctump.2024i72.2335 Google Scholar
[8]
Huỳnh Văn Bá, Huỳnh Văn Tùng, Nguyễn Văn Nguyên, và cs. (2024). Mô hình bệnh da thường gặp tại xã Vĩnh Phú, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang và một số yếu tố liên quan, năm 2023.Tạp chí Y học Việt Nam,542(2):229-234. https://doi.org/10.51298/vmj.v542i2.11108 Google Scholar
[9]
Li J., Mao D., Liu S., et al. (2022). Epidemiology of urticaria in China: a population-based study. Chin Med J (Engl), 135(11), 1369–1375. doi: 10.1097/CM9.0000000000002172. PMID: 35830258; PMCID: PMC9433071. Google Scholar
[10]
Phạm Văn Tuấn, Bùi Thị Vân, Vũ Hoàng Nhung, và cs. (2021). Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh nấm da thân tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh. Tạp chí Y dược học lâm sàng 108, 16(1):43-37. https://doi.org/10.52389/ydls.v16i1.671 Google Scholar