Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THIẾU MÁU TRONG THAI KỲ CỦA THAI PHỤ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY

Nguyễn Thị Hương Linh1,2,3,4, Nguyễn Thị Kim Dung1,2,3,4, Nguyễn Thị Hân1,2,3,4, Nguyễn Thị Hồng1,2,3,4, Nguyễn Thị Hiền1,2,3,4, Nguyễn Thị Mỹ Xuân1,2,3,4, Nguyễn Thị Như1,3, Nguyễn Thị Thu Hà1,2,3,4, Vũ Thị Hồng Chinh1,2,3,4, Nguyễn Thị Hiền5,6
1 Women’s Health Center, Vinmec Times City International General Hospital
2 VinUniversity
3 Trung tâm Sức khỏe phụ nữ, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
4 Trường Khoa học sức khỏe, Đại học VinUni
5 College of Health Sciences, Department of Family Medicine, University of Medicine and Pharmacy, Thai Nguyen University
6 Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5166
80 Lượt xem
15 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng thiếu máu trong thai kỳ của thai phụ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2024-2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 2572 thai phụ sinh tại Bệnh viện Quốc tế Vinmec Times City từ ngày 1/7/2024 đến ngày 30/6/2025.

Kết quả: Tuổi trung bình của thai phụ là 33,8 ± 4,6 tuổi. Tỷ lệ thiếu máu ở quý I, quý II và quý III lần lượt là 5,8%; 23,6% và 15,3%, với tỷ lệ thiếu máu chung là 15,4%. Không ghi nhận thiếu máu nặng, thiếu máu nhẹ chiếm đa số (82%). Tình trạng thiếu máu gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 25 đến dưới 35 (16,4%) và thấp nhất ở nhóm 35 đến dưới 40 tuổi (13,9%), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo số lần sinh và nồng độ ferritin của thai phụ với tình trạng thiếu máu thai kỳ (p < 0,05).

Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu là 15,4%, chủ yếu là thiếu máu nhẹ. Tình trạng thiếu máu cao nhất ở quý II thai kỳ. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu với số lần sinh và nồng độ ferritin. Kết quả nhấn mạnh vai trò của dự trữ sắt và sự cần thiết của sàng lọc, bổ sung vi chất kịp thời trong thai kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. Guideline on haemoglobin cutoffs to define anaemia in individuals and populations, 2024. Google Scholar
[2]
Stevens et al G.A. Global, regional, and national trends in haemoglobin concentration and prevalence of total and severe anaemia in children and pregnant and non-pregnant women for 1995-2011: a systematic analysis of population-representative data. The Lancet Global Health, 2013, 1 (1): e16-e25. doi: 10.1016/S2214-109X(13)70001-9. Google Scholar
[3]
Siridamrongvattana S et al. Burden of anemia in relation to thalassemia and iron deficiency among Vietnamese pregnant women. Acta Haematologica, 2013, 130 (4): 281-287. doi: 10.1159/000351168. Google Scholar
[4]
Means R.T. Iron deficiency and iron deficiency anemia: implications and impact in pregnancy, fetal development, and early childhood parameters. Nutrients, 2020, 12 (2): 447. doi: 10.3390/nu12020447. Google Scholar
[5]
Vi Lương Bộ và cộng sự. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai và một số yếu tố ảnh hưởng tại trung tâm y tế huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 2019-2024. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 542 (3): 117-121. doi: 10.51298/vmj.v542i3.11185. Google Scholar
[6]
World Health Organization. Global anaemia estimates in women of reproductive age, by pregnancy status, and in children aged 6-59 months. https://bit. ly/3uTEuoG, 2022. Google Scholar
[7]
Scholl T.O. Maternal iron status: relation to fetal growth, length of gestation, and iron endowment of the neonate. Nutrition Reviews, 2011, 69 (Suppl 1): S23-S29. doi: 10.1111/j.1753-4887.2011.00429.x. Google Scholar
[8]
Rahman M.M et al. Maternal anemia and risk of adverse birth and health outcomes in low-and middle-income countries: systematic review and meta-analysis. The American Journal of Clinical Nutrition, 2016, 103 (2): 495-504. doi: 10.3945/ajcn.115.107896. Google Scholar
[9]
Pavord S, Daru J et al. UK guidelines on the management of iron deficiency in pregnancy. British Journal of Haematology, 2020, 188 (6): 819-830. doi: 10.1111/bjh.16221. Google Scholar