- M.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: đoàn hệ tiến cứu không nhóm chứng trên 152 bệnh nhân từ 40 tuổi được chẩn đoán viêm âm đạo do ít nhất một trong ba tác nhân (vi khuẩn, nấm, Trichomonas) và theo dõi sau 3 tháng điều trị với phác đồ điều trị của Bệnh viện.
Kết quả: Khảo sát 152 bệnh nhân viêm âm đạo, trong đó nhóm tuổi 40 - 49 chiếm đa số (75,7%). Đối tượng chủ yếu sinh sống tại thành phố (82,9%) và nghề nghiệp công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (51,3%). Phần lớn bệnh nhân đang trong giai đoạn tiền mãn kinh (75,7%). Tỷ lệ khỏi bệnh hoàn toàn (âm tính về lâm sàng và vi sinh) sau 2 tuần đạt 69,7%; trong đó, nhóm đơn nhiễm đạt tỷ lệ khỏi 72,7%, nhóm đa nhiễm chỉ đạt 54,2%. Có 9,9% trường hợp đáp ứng lâm sàng nhưng vẫn tồn tại tác nhân vi sinh. Khảo sát nguyên nhân ở nhóm thất bại điều trị cho thấy rào cản hành vi đóng vai trò chủ đạo. Việc quên liều hoặc tự ý bỏ thuốc khiến nguy cơ thất bại điều trị tăng vọt lên gấp gần 28 lần (aOR = 27,69). Trong khi đó, thao tác đặt thuốc sai kỹ thuật cũng làm tăng nguy cơ này lên gần 8 lần (aOR = 7,58) so với nhóm thực hiện đúng. Tại thời điểm theo dõi 3 tháng, tỷ lệ khỏi bệnh bền vững (không tái phát mầm cũ) đạt 77,4%. Nhóm đa nhiễm tiếp tục bộc lộ nguy cơ tái phát cao nhất (30,8%), chủ yếu do mầm bệnh cũ tồn tại dai dẳng thay vì nhiễm mới tác nhân khác.
Kết luận: Phác đồ điều trị đạt hiệu quả làm sạch mầm bệnh hoàn toàn là 69,7%, nguyên nhân thất bại là do hành vi trong quá trình điều trị nên triển khai tư vấn trực quan, hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cá thể hóa kết hợp với kiểm soát các yếu tố vệ sinh để nâng cao tỷ lệ khỏi bệnh bền vững và giảm thiểu nguy cơ tái phát cho phụ nữ sau tuổi 40.