Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC Ở BỆNH NHÂN ĐA HỒNG CẦU NGUYÊN PHÁT TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 2021-2023

Nguyễn Ngọc Dũng1,2, Nguyễn Diệu Linh1,2
1 National Institute of Hematology and Blood Transfusion
2 Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5157
34 Lượt xem
11 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát một số chỉ số huyết học của máu ngoại vi ở bệnh nhân mắc đa hồng cầu nguyên phát tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2021-2023; phân tích đặc điểm một số chỉ số của tủy xương ở bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2021-2023.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu từ hồ sơ bệnh án của 72 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh đa hồng cầu nguyên phát tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trong khoảng thời gian từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2023.

Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ là 2,33/1, tuổi trung bình là 62 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân mang đột biến gen JAK2 V617F chiếm 90,3%. Ở xét nghiệm máu ngoại vi, số lượng hồng cầu, lượng hemoglobin, hematocrit đều tăng, với giá trị trung vị lần lượt là 6,94 T/l, 196 g/l và 0,605 l/l. Các chỉ số hồng cầu như MCV, MCH, MCHC nằm trong giới hạn bình thường (trung vị tương ứng 89,4fl, 28,7 pg và 323 g/l); số lượng bạch cầu tăng, với mức trung vị là 13,46 G/l, trong khi số lượng tiểu cầu ở mức bình thường (trung vị 433 G/l). Trên tủy xương, tổng số lượng tế bào tăng (trung vị 104,4 G/l). Kết quả mô bệnh học tủy xương cho thấy tăng sinh chủ yếu ở dòng hồng cầu (90,3%), dòng bạch cầu hạt tăng sinh chiếm 65,3%, dòng mẫu tiểu cầu tăng sinh chiếm 54,2%, tỷ lệ có rối loạn hình thái mẫu tiểu cầu là 65,3%.

Kết luận: Ở bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát, có sự biến đổi về một số chỉ số huyết học trên máu ngoại vi và tủy xương.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Đình Duy. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm về kết quả điều trị bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương năm 2017-2019. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019. Google Scholar
[2]
Nguyễn Vũ Bảo Anh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018 tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2023. Google Scholar
[3]
Arber D.A et al. The 2016 revision to the World Health Organization classification of myeloid neoplasms and acute leukemia. Blood, 2016, 127 (20): 2391-2405. doi: 10.1182/blood-2016-03-643544. Google Scholar
[4]
Trần Thị Diễm Quỳnh. Nghiên cứu đặc điểm tế bào máu ngoại vi ở bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2022-2023. Luận văn tốt nghiệp cử nhân kỹ thuật xét nghiệm, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023. Google Scholar
[5]
Szuber N et al. 3023 Mayo Clinic patients with myeloproliferative neoplasms: risk-stratified comparison of survival and outcomes data among disease subgroups. Mayo Clin Proc, 2019, 94 (4): 599-610. doi: 10.1016/j.mayocp.2018.08.022 Google Scholar
[6]
Wenjing Gu et al. Prediction of thrombosis in polycythemia vera: development and validation of a multiple factor-based prognostic score system. Research and Practice in Thrombosis and Haemostasis, 2023, 7 (3): 100132. doi: 10.1016/j.rpth.2023.100132. Google Scholar
[7]
Yap Y.Y, Law K.B et al. The epidemiology and clinical characteristics of myeloproliferative neoplasms in Malaysia. Exp Hematol Oncol, 2018, 7: 31. doi: 10.1186/s40164-018-0124-7. Google Scholar
[8]
Kim S.Y et al. CALR, JAK2, and MPL mutation profiles in patients with four different subtypes of myeloproliferative neoplasms: primary myelofibrosis, essential thrombocythemia, polycythemia vera, and myeloproliferative neoplasm, unclassifiable. Am J Clin Pathol, 2015, 143 (5): 635-644. doi: 10.1309/AJCPUAAC16LIWZMM. Google Scholar
[9]
Nguyễn Vũ Bảo Anh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, huyết học và bước đầu nhận xét về đột biến gen Janus kinase (JAK2V617F) trong một số thể tăng sinh tủy mạn tính. Luận văn bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, 2010. Google Scholar
[10]
Grunwald M.R et al. Clinical and disease characteristics from REVEAL at time of enrollment (baseline): prospective observational study of patients with polycythemia vera in the United States. Clinical Lymphoma Myeloma and Leukemia, 2018, 18 (12): 788-795. doi: 10.1016/j.clml.2018.08.009. Google Scholar
[11]
Tefferi A, Barbui T. Polycythemia vera and essential thrombocythemia: 2019 update on diagnosis, risk-stratification and management. American Journal of Hematology, 2019, 94 (1): 133-143. doi: 10.1002/ajh.25303 Google Scholar