Bài báo khoa học Tập 67 Số 5 25/05/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA THAI PHỤ MANG SONG THAI ≥ 22 TUẦN MẮC TIỀN SẢN GIẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024-2026

Nguyễn Anh Văn1,2, Nguyễn Quốc Tuấn1,2, Thạch Thảo Đan Thanh1,2, Dư Kim Châu3,4
1 Can Tho University of Medicine and Pharmacy
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3 Can Tho Gynecology Obstetrics Hospital
4 Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ
DOI: 10.52163/yhc.v67i5.5150
23 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thai phụ mang song thai ≥ 22 tuần mắc tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ năm 2024-2026.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 thai phụ mang song thai ≥ 22 tuần được chẩn đoán tiền sản giật, nhập viện theo dõi, điều trị và chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu.

Kết quả: Tuổi trung bình thai phụ 30,7 ± 5,6; 81,8% dưới 35 tuổi. BMI trước mang thai trung bình 22,8 ± 3,3 kg/m²; 38,6% có BMI ≥ 23 kg/m². Tỷ lệ thụ thai nhờ hỗ trợ sinh sản 38,6%. Tuổi thai khởi phát trung bình 37,7 ± 3,1 tuần; 38,6% khởi phát dưới 34 tuần. Tiền sản giật có dấu hiệu nặng chiếm 52,3%; hội chứng HELLP 15,9%. Huyết áp tâm thu cao nhất trung bình 155,5 ± 16,5 mmHg. Trong nhóm có dấu hiệu nặng, 87% có tăng huyết áp nặng; tán huyết 34,8%; giảm tiểu cầu và tăng men gan cùng chiếm 17,4%; suy giảm chức năng thận 13%. Không ghi nhận yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với thể nặng; tuy nhiên, 100% trường hợp có tăng huyết áp mạn thuộc nhóm có dấu hiệu nặng (p = 0,050).

Kết luận: Tiền sản giật ở thai kỳ song thai ≥ 22 tuần có tỷ lệ thể nặng và khởi phát sớm đáng kể, kèm nhiều biểu hiện tổn thương đa cơ quan. Cần nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để xác định các yếu tố dự báo thể nặng.

Tài liệu tham khảo
[1]
American College of Obstetricians and Gynecologists. Gestational hypertension and preeclampsia. ACOG practice bulletin, No. 222, 2020, 135 (6): e237-60. Google Scholar
[2]
Magee L.A, Nicolaides K.H, von Dadelszen P. Preeclampsia. N Engl J Med, 2022, 386 (19): 1817-32. doi: 10.1056/NEJMra2109523. Google Scholar
[3]
Gyamfi-Bannerman C, Miller R.S. Multifetal pregnancy. In: Williams Obstetrics, 26th ed. New York: McGraw Hill, 2022: 838-64. Google Scholar
[4]
Roberts J.M, Hubel C.A. Preeclampsia syndrome. In: Williams Obstetrics, 26th ed. New York: McGraw Hill, 2022: 688-710. Google Scholar
[5]
Avnon T, Ascher-Landsberg J, Yogev Y, Many A. Clinical characteristics of preeclampsia in twin versus singleton pregnancies. J Matern Fetal Neonatal Med, 2021, 34 (18): 2978-83. doi: 10.1080/14767058.2020.1784872. Google Scholar
[6]
Han Q, Zheng S, Chen R, Zhang H, Yan J. A new model for predicting the risk of preeclampsia in twin pregnancy. Front Physiol, 2022, 13: 850149. doi: 10.3389/fphys.2022.850149. Google Scholar
[7]
Dai F, Pan S, Lan Y et al. Pregnancy outcomes and risk factors for preeclampsia in dichorionic twin pregnancies after in vitro fertilization: a five-year retrospective study. BMC Pregnancy Childbirth, 2022, 22: 830. doi: 10.1186/s12884-022-05184-y. Google Scholar
[8]
Mao J.Y, Luo S, Wang L et al. Impact factors and obstetric outcomes of preeclampsia in twin pregnancies by prepregnancy body mass index: a six-year retrospective cohort study. J Matern Fetal Neonatal Med, 2024, 37 (1): 2345294. doi: 10.1080/14767058.2024.2345294. Google Scholar
[9]
Chantanahom N, Phupong V. Clinical risk factors for preeclampsia in twin pregnancies. PLoS One, 2021, 16 (4): e0249555. doi: 10.1371/journal.pone.0249555. Google Scholar