Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ5-NCKH 04/05/2026

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH HỌC CỦA BÓNG KHÍ CUỐN GIỮA VÀ MỐI TƯƠNG QUAN VỚI TÌNH TRẠNG HẸP LỖ THÔNG VÀ HÌNH ẢNH VIÊM XOANG HÀM TRÊN PHIM CẮT LỚP VI TÍNH

Nguyễn Thị Kiều Thơ1,2,3,4, Nguyễn Đình Chương1,2,3,4
1 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
2 Gia Dinh People’s Hospital
3 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
4 Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD5.4995
14 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bóng khí cuốn giữa là một biến thể giải phẫu phổ biến, tuy nhiên tác động cơ học và bệnh học của nó lên phức hợp lỗ ngách vẫn còn nhiều tranh cãi.

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ xuất hiện của bóng khí cuốn giữa và phân tích mối liên quan giữa biến thể này với tình trạng hẹp lỗ thông xoang hàm và viêm xoang hàm trên cắt lớp vi tính (CT).

Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 170 bệnh nhân (tương ứng 340 bên hốc mũi) có chỉ định chụp cắt lớp vi tính mũi xoang tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 06/2024 đến tháng 06/2025. Tình trạng viêm xoang hàm trên CT được xác định dựa trên hình ảnh dày niêm mạc > 2 mm hoặc mờ một phần/toàn bộ xoang theo thang điểm Lund-Mackay.

Kết quả: Bóng khí cuốn giữa được ghi nhận ở 39,4% số bên khảo sát. Về mặt hình thái, tỷ lệ hẹp lỗ thông xoang hàm ở nhóm có bóng khí cuốn giữa (8,7%) có xu hướng cao hơn so với nhóm không có biến thể này (4,6%) (OR = 1,98), tuy nhiên sự khác biệt chưa đạt mức ý nghĩa thống kê (p = 0,284). Tỷ lệ viêm xoang hàm trên CT ở nhóm có bóng khí cuốn giữa (38,8%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có biến thể này (55,3%) (p = 0,018; OR = 0,51).

Kết luận: Bóng khí cuốn giữa có xu hướng gây chèn ép cơ học làm hẹp lỗ thông xoang trên hình ảnh học, nhưng lại có mối tương quan nghịch với tình trạng viêm xoang hàm trên CT. Kết quả gợi ý rằng sự hiện diện đơn thuần của bóng khí cuốn giữa chưa cho thấy mối liên quan làm tăng tỷ lệ viêm xoang hàm trên CT trong mẫu nghiên cứu này.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bolger WE, Parsons DS, Butzin CA. Paranasal sinus bony anatomic variations and mucosal abnormalities: CT analysis for endoscopic sinus surgery. The Laryngoscope. 1991;101(1):56–64. doi: 10.1288/00005537-199101000-00010. Google Scholar
[2]
Hatipoğlu HG, Cetin MA, Yüksel E. Concha bullosa types: their relationship with sinusitis, ostiomeatal and frontal recess disease. Diagn Interv Radiol. 2005;11(3):145–9. Google Scholar
[3]
Yazici D. The effect of frontal sinus pneumatization on anatomic variants of paranasal sinuses. European Archives of Oto-Rhino-Laryngology. 2019;276(4):1049–56. doi: 10.1007/s00405-018-5259-y. Google Scholar
[4]
Stallman JS, Lobo JN, Som PM. The incidence of concha bullosa and its relationship to nasal septal deviation and paranasal sinus disease. American Journal of neuroradiology. 2004;25(9):1613–8. Google Scholar
[5]
İncebeyaz B, Öztaş B. Evaluation of osteomeatal complex by cone-beam computed tomography in patients with maxillary sinus pathology and nasal septum deviation. BMC Oral Health. 2024;24(1):544. doi: 10.1186/s12903-024-04272-z. Google Scholar
[6]
Smith KD, Edwards PC, Saini TS, Norton NS. The prevalence of concha bullosa and nasal septal deviation and their relationship to maxillary sinusitis by volumetric tomography. International journal of dentistry. 2010;2010(1):404982. doi: 10.1155/2010/404982. Google Scholar
[7]
Vasegh Z, Moshfeghi M, Jalali N, Jafarian Amiri M. Prevalence and correlation of concha bullosa and nasal septal deviation with maxillary sinus mucosal thickening using cone-beam computed tomography. Journal of Iranian Medical Council. 2024;7(1):89-98. doi: 10.18502/jimc.v7i1.14205. Google Scholar
[8]
Yiğit Ö, Acıoğlu E, Çakır ZA, Şişman AS, Barut AY. Concha bullosa and septal deviation. European archives of oto-rhino-laryngology. 2010;267(9):1397–401. doi: 10.1007/s00405-010-1228-9. Google Scholar