Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ5-NCKH 04/05/2026

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHỨC HỢP TẾ BÀO THÀNH TRƯỚC NGÁCH TRÁN VÀ TƯƠNG QUAN VỚI TÌNH TRẠNG MỜ XOANG THEO THANG ĐIỂM LUND-MACKAY TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH

Nguyễn Thị Kiều Thơ1,2,3,4, Lê Phi Nhạn5,6, Nguyễn Đình Chương1,2,3,4
1 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
2 Gia Dinh People’s Hospital
3 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
4 Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
5 Tien Giang General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD5.4991
17 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định đặc điểm hình thái, tỷ lệ hiện diện của phức hợp tế bào thành trước ngách trán và đánh giá mối liên quan với tình trạng mờ xoang trán trên cắt lớp vi tính (CLVT).

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 174 bệnh nhân tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định (01/2024–06/2025). Sau khi loại trừ các bên xoang trán bất sản, 340 bên xoang được đưa vào phân tích. Cấu trúc giải phẫu được xác định trên CT scan đa bình diện và đối chiếu với tình trạng mờ xoang trán theo thang điểm Lund-Mackay. Phân tích GEE được sử dụng để kiểm soát sự tương quan giữa hai bên xoang trên cùng một cá thể.

Kết quả: Tế bào Agger nasi hiện diện ở 90,6% bên xoang. Tế bào trán (theo phân loại Kuhn) chiếm 45,6%. Sự hiện diện tế bào Agger nasi có liên quan với tỷ lệ mờ xoang trán cao hơn (OR=3,45; KTC 95%: 1,18–10,12; p=0,035). Tỷ lệ mờ xoang có xu hướng tăng dần theo mức độ phức tạp giải phẫu: 12,5% ở nhóm không có tế bào Agger nasi và tế bào trán; 22,8% ở nhóm chỉ có tế bào Agger nasi; và 32,9% ở nhóm có đồng thời tế bào Agger nasi và tế bào trán (p=0,032). Nhóm tế bào trán xâm lấn cao (Kuhn type III, IV) có tỷ lệ mờ xoang (48,5%) cao hơn nhóm xâm lấn thấp (28,7%), tuy nhiên sự khác biệt chưa đạt ý nghĩa thống kê (p=0,052).

Kết luận: Phức hợp tế bào thành trước ngách trán có liên quan đến tình trạng  mờ xoang trán trên CLVT. Sự hiện diện đồng thời của tế bào Agger nasi và tế bào trán gợi ý hiệu ứng chèn ép không gian, liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ mờ xoang so với sự hiện diện đơn độc.

Tài liệu tham khảo
[1]
Daniels DL, Mafee MF, Smith MM, Smith TL, Naidich TP, Brown WD, et al. The frontal sinus drainage pathway and related structures. American journal of neuroradiology. 2003;24(8):1618–27. Google Scholar
[2]
Bent JP, Cuilty-Siller C, Kuhn FA. The frontal cell as a cause of frontal sinus obstruction. American journal of rhinology. 1994;8(4):185–92. doi:10.2500/105065894781874278 Google Scholar
[3]
Wormald PJ. The key to understanding the anatomy of the frontal recess. Otolaryngol Head Neck Surg. 2003;129:497–507. doi: 10.1016/S0194-5998(03)01581-X. Google Scholar
[4]
Kuhn FA, Bolger WE, Tisdal RG. The Agger nasi cell in frontal recess obstruction: an anatomic, radiologic and clinical correlation. Operative Techniques in Otolaryngology-Head and Neck Surgery. 1991;2(4):226–31. doi: 10.1016/S1043-1810(10)80085-5. Google Scholar
[5]
Wormald PJ, Hoseman W, Callejas C, Weber RK, Kennedy DW, Citardi MJ, et al., editors. The international frontal sinus anatomy classification (IFAC) and classification of the extent of endoscopic frontal sinus surgery (EFSS). International forum of allergy & rhinology; 2016: Wiley Online Library. doi: 10.1002/alr.21738. Google Scholar
[6]
DelGaudio JM, Hudgins PA, Venkatraman G, Beningfield A. Multiplanar computed tomographic analysis of frontal recess cells: effect on frontal isthmus size and frontal sinusitis. Archives of Otolaryngology–Head & Neck Surgery. 2005;131(3):230–5. doi: 10.1001/archotol.131.3.230. Google Scholar
[7]
Eweiss AZ, Khalil HS. The prevalence of frontal cells and their relation to frontal sinusitis: a radiological study of the frontal recess area. International Scholarly Research Notices. 2013;2013(1):687582. doi: 10.1155/2013/687582. Google Scholar
[8]
Kuhn FA. Chronic frontal sinusitis: the endoscopic frontal recess approach. Operative techniques in otolaryngology-head and neck surgery. 1996;7(3):222–9. doi: 10.1016/S1043-1810(96)80037-6 Google Scholar