Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ5-NCKH 04/05/2026

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG GÃY KÍN XƯƠNG BẢ VAI BẰNG NẸP VÍT

Trịnh Đình Thanh1,2, Nguyễn Mạnh Khánh3,4, Phạm Văn Thương1,2
1 Department of Surgery and Surgical Practice, Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
2 Bộ môn Ngoại và Phẫu thuật thực hành, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
3 Viet Duc University Hospital
4 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD5.4989
19 Lượt xem
4 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương gãy kín xương bả vai bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 bệnh nhân gãy kín xương bả vai được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ tháng 12/2023 đến tháng 9/2025. Đặc điểm tổn thương được đánh giá trên X quang và chụp cắt lớp vi tính, phân loại theo AO/OTA 2018. Các yếu tố phẫu thuật được ghi nhận gồm tư thế bệnh nhân, đường mổ, số nẹp vít, thời gian phẫu thuật và lượng máu truyền. Kết quả điều trị được đánh giá qua mức độ đau sau mổ, tình trạng liền vết mổ, chức năng khớp vai theo thang điểm Constant-Murley và chất lượng cuộc sống theo thang điểm EQ-5D-5L tại thời điểm kết thúc theo dõi.

Kết quả: Tư thế phẫu thuật thường được sử dụng là tư thế nằm sấp (65,7%), tiếp theo là tư thế nằm nghiêng (34,3%). Hai đường mổ chủ yếu là đường Judet cải tiến (37,1%) và đường Brodsky (62,9%). Phần lớn trường hợp được kết hợp xương bằng 1 nẹp vít khóa, một số trường hợp gãy phức tạp cần sử dụng 2 nẹp. Thời gian phẫu thuật trung bình 48,7 ± 12,3 phút. Đa số bệnh nhân không cần truyền máu trong mổ (88,6%). Sau phẫu thuật, mức độ đau giảm rõ rệt, vết mổ liền tốt và tỷ lệ biến chứng thấp. Tại thời điểm kết thúc theo dõi, chức năng khớp vai cải thiện rõ rệt, phần lớn bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm Constant-Murley, đồng thời chỉ số chất lượng cuộc sống EQ-5D-5L cũng được cải thiện đáng kể.

Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương gãy kín xương bả vai bằng nẹp vít cho kết quả điều trị khả quan với thời gian phẫu thuật ngắn, tỷ lệ biến chứng thấp và phục hồi tốt chức năng khớp vai cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo
[1]
Zlowodzki M, Bhandari M, Zelle B.A, Kregor PJ, Cole P.A. Treatment of scapula fractures: systematic review of 520 fractures in 22 case series. J Bone Joint Surg Am, 2006, 88 (3): 653-660. doi: 10.2106/JBJS.E.00882 Google Scholar
[2]
Cole P.A, Gauger E.M, Herrera D.A. Anterior approach for scapular fractures and glenohumeral instability. J Orthop Trauma, 2012, 26 (4): e43-e49. doi: 10.1097/BOT.0b013e318223b37d Google Scholar
[3]
Hardegger F.H, Simpson L.A, Weber B.G. The operative treatment of scapular fractures. J Bone Joint Surg Br, 1984, 66 (5): 725-731. doi: 10.1302/0301-620X.66B5.6501367 Google Scholar
[4]
Anavian J, Gauger E.M, Schroder L.K, Wijdicks C.A, Cole P.A. Surgical management of scapular fractures: results of operative treatment. J Bone Joint Surg Am, 2011, 93 (20): 1873-1879. doi: 10.2106/JBJS.J.00273 Google Scholar
[5]
Herrera D.A, Anavian J, Tarkin I.S, Armitage B.A, Schroder L.K, Cole P.A. Delayed operative management of scapular fractures. J Orthop Trauma, 2009, 23 (3): 202-207. doi: 10.1097/BOT.0b013e31819b24a5 Google Scholar
[6]
Sernandez H.C, Riehl J.T, Fogel J. Sling and forget it? A systematic review of operative versus nonoperative outcomes for scapula fractures. J Shoulder Elbow Surg, 2024, 33 (12): 2743-2754. doi: 10.1016/j.jse.2024.05.018 Google Scholar
[7]
Schmidt V, Wennergren D, Bergdahl C et al. Epidemiology, treatment, and mortality of 3973 scapula fractures from the Swedish Fracture Register. J Shoulder Elbow Surg, 2025, 34 (1): e47-e56. doi: 10.1016/j.jse.2024.08.022 Google Scholar